Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. 7 Chương 4: Kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp cơ khí chế tạo niêm yết trên TTCK ở Việt Nam.
Chương 5: Kết luận, đóng góp và kiến nghị. 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CẤU TRÚC VỐN TỚI HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 2. Tổng quan về cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty 2. Vốn của doanh nghiệp Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh thì các doanh nghiệp cần có các yếu tố đầu vào như sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động.
Xét trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp sẽ phải ứng ra lượng vốn ban đầu cho việc mua sắm nguyên vật liệu và máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng hay trả lương cho lao động. Số tiền ứng ra đó được gọi là vốn ban đầu của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ tạo ra hàng hoá và dịch vụ để cung ứng cho thị trường dưới sự tác động của sức lao động vào đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động. Để có thể tồn tại và phát triển, số tiền doanh nghiệp thu được từ việc tiêu thụ sản phẩm của mình phải đảm bảo bù đắp được chi phí và phải có lãi.
Từ đó, số vốn ban đầu sẽ được mở rộng với quy mô lớn hơn. Toàn bộ những giá trị ứng ra ban đầu cùng với phần được bổ sung trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là vốn. Có thể hiểu một cách khái quát rằng: Vốn của doanh nghiệp được định nghĩa là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ những giá trị tài sản mà doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu sinh lời. Nguồn vốn của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể huy động vốn từ các nguồn khác nhau để đáp ứng nhu cầu cho hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư.
Nói cách khác nguồn 9 vốn của doanh nghiệp sẽ phản ánh nguồn gốc hay xuất xứ của vốn mà doanh nghiệp huy động để tài trợ cho tài sản hay các hoạt động sản xuất kinh doanh và đầu tư của mình. Nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp nói riêng cũng như là một mắt xích trong nền kinh tế nói chung. Nguồn vốn của doanh nghiệp có thể được nhìn nhận, định nghĩa từ các góc nhìn và mục đích khác nhau. Có thể hiểu rằng nguồn vốn là nguồn hình thành nên tài sản của doanh nghiệp và tạo ra sự tăng thêm tổng tài sản cho doanh nghiệp.
Với bối cảnh nền kinh tế hiện đại hiện nay, cùng với sự đa dạng và phát triển đầy mạnh mẽ của các cách tiếp cận, phân bổ và huy động nguồn vốn thông qua thị trường tài chính - tiền tệ, doanh nghiệp đã có thể tận dụng được cơ hội huy động được nguồn vốn tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh để mở rộng quy mô, đầu tư và phát triển một cách thuận lợi hơn. Nguồn vốn được phân loại theo nhiều tiêu thức cơ bản để doanh nghiệp có thể lựa chọn được hình thức huy động vốn phù hợp và hiệu quả cho hoạt động của mình. Trong đó, căn cứ vào quan hệ sở hữu vốn, nguồn vốn của doanh nghiệp được sẽ được hình thành từ nguồn vốn nợ và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Tùy theo đặc thù của từng ngành, lĩnh vực mà doanh nghiệp đang hoạt động, xét cả về quy mô cũng như thời gian hoạt động, cách tiếp cận cũng như phương thức huy động vốn cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng sẽ là tiền đề để các doanh nghiệp có thể đưa ra các quyết định về cấu trúc vốn.
Nguồn vốn nợ Nguồn vốn nợ là một trong những nguồn vốn cần thiết dùng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp. Theo Tirole (2006), nguồn vốn nợ của doanh nghiệp sẽ bao gồm năm nhóm cơ bản. Thứ nhất, dựa trên người cho vay hay còn gọi là đối tượng cung cấp, nguồn vốn nợ sẽ bao gồm các khoản vay ngân hàng, nguồn vốn đến từ việc chào bán riêng lẻ cho các nhà đầu tư 10 chuyên nghiệp hay đem trái phiếu chào bán ra công chúng, hoặc việc sử dụng các phương thức như tín dụng thương mại. Thứ hai, nguồn vốn nợ đến từ việc doanh nghiệp có thể phát hành ra công cụ nợ ngắn hạn hay dài hạn tùy vào mục đích sử dụng.
Thứ ba, doanh nghiệp cũng có thể đưa ra các yêu cầu để có thể hạn chế được quyền kiểm soát đối với người cho vay trong các công cụ nợ. Thứ 4, là nhóm các công cụ nợ được thế chấp bằng tài sản bảo đảm. Và cuối cùng, các công cụ nợ cũng sẽ có thứ tự thanh toán khác nhau nếu doanh nghiệp bị giải thể hoặc trường hợp vỡ nợ, phá sản. Các đặc trưng của nguồn vốn nợ bao gồm: ● Tài sản bảo đảm Doanh nghiệp có thể tiến hành huy động vốn từ các nguồn nợ có tài sản bảo đảm hoặc không có tài sản bảo đảm.
Doanh nghiệp có thể huy động khoản nợ thế chấp bằng tài sản bảo đảm dựa trên chính tài sản của mình. Nếu doanh nghiệp không thể đảm bảo nghĩa vụ thanh toán thì việc thu hồi nợ sẽ được dựa vào tài sản bảo đảm. Ngược lại, khoản nợ không có tài sản bảo đảm sẽ được dựa trên danh tiếng, uy tín và tình hình hoạt động của doanh nghiệp. ● Theo thời gian đáo hạn Thông thường, các khoản nợ dưới một năm sẽ được hiểu là các khoản nợ ngắn hạn còn các khoản nợ trên năm được phân loại là các khoản nợ dài hạn.
Ví dụ về các khoản nợ ngắn hạn như: thương phiếu trong thời gian ngắn, tín dụng ngắn hạn ngân hàng có thể cung cấp cho doanh nghiệp (không được bảo đảm, thường từ 30 - 90 ngày giao dịch trên thị trường) hay tín dụng thương mại. Trái lại, nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp sẽ là các khoản nợ vay được huy động bằng hình thức chào bán riêng lẻ hay thông qua chào bán ra công chúng trên TTCK hoặc nợ do ngân hàng cung cấp. Ví dụ, các doanh nghiệp lớn thông thường sẽ là doanh nghiệp có thể phát hành trái phiếu để huy động được khối lượng lớn. Các trái phiếu phát hành từ các doanh nghiệp này thường được bảo lãnh bởi công ty chứng khoán hay các ngân hàng đầu tư.
11 Trái phiếu sẽ được giao dịch trên TTCK sau khi phát hành. Giá trái phiếu sẽ thể hiện được độ biến động của lãi suất hiện tại và phụ thuộc vào độ tín nhiệm của DN phát hành. Với trái phiếu doanh nghiệp ở Việt Nam, chủ thể chính tham gia mua sẽ bao gồm các định chế tài chính như các ngân hàng, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, các công ty bảo hiểm,… ● Các khoản nợ có thể giao dịch Đây là các khoản nợ dưới hình thức trái phiếu được phát hành trên TTCK sơ cấp bằng các tổ chức bảo lãnh phát hành hoặc được phát hành trực tiếp bởi doanh nghiệp. Tiếp đến, những công cụ nợ này sẽ được giao dịch trên TTCK thứ cấp.
Các khoản nợ dưới hình thức nợ vay từ ngân hàng hoặc được chào bán riêng lẻ sẽ có tính thanh khoản ít hơn, mặc dù sau đó nó có thể được chuyển nhượng trên TTCK bằng quá trình chứng khoán hóa. Các công cụ nợ này sẽ có khả năng chuyển nhượng phụ thuộc vào tính chất đối xứng của thông tin. Điều này giống với quan điểm của Akerlof (1970) - “Nếu người mua không có đầy đủ thông tin về chứng khoán nợ thì sẽ xảy ra tình trạng bất đối xứng thông tin, từ đó giao dịch chuyển nhượng khó có thể diễn ra” Cũng theo Tirole (2006) có sự khác nhau về tính chất của phía cầu - người đi vay cùng với phía cung - người cho vay. Đứng trên góc nhìn của doanh nghiệp đi vay, có thể phân thành 2 nhóm dựa vào mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp.
Nhóm doanh nghiệp có độ tín nhiệm cao thường sẽ bao gồm chủ yếu là nợ dài hạn. Điều này có thể được chỉ ra theo nghiên cứu của Gertler và Gilchrist (1994), khi tiến hành nghiên cứu các doanh nghiệp ở Mỹ, mức độ sử dụng nợ ngắn hạn của các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp nhỏ lần lượt gần 15% và 30%; còn tại Đức với tỷ lệ tương ứng gần 40% và 60%. Những doanh nghiệp có mức độ uy tín cao sẽ dễ dàng huy động vốn từ các khoản nợ thông qua quá trình chào bán trái phiếu ra công chúng, ngược lại nếu có độ tín nhiệm thấp, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong vấn đề này. 12 Trường hợp mức độ tín nhiệm thấp, các doanh nghiệp này sẽ phải chấp nhận huy động vốn từ những tổ chức như quỹ đầu tư mạo hiểm,… Về phía cung-người cho vay được chia thành nhóm như sau: i) các nhà đầu tư cá nhân và tổ chức nhỏ lẻ với việc đầu tư cho các công cụ nợ dựa trên các thông tin công khai và phổ biến; ii) nhóm nhà đầu tư chuyên nghiệp như các định chế tài chính, thường sẽ thực hiện các khoản đầu tư riêng lẻ cũng như kiểm soát được các điều khoản cho vay một cách cẩn thận hơn.
Có sự khác biệt giữa hai nhóm này, khi mà các nhà đầu tư chuyên nghiệp thường sẽ thực hiện phân tích kỹ lưỡng trước khi cho vay, ngược lại nhà đầu tư nhỏ lẻ có thể sẽ chọn cách đầu tư dựa trên định mức tín nhiệm từ đánh giá và nhận xét của tổ chức chuyên nghiệp. Các khoản nợ vay cũng sẽ có sự khác nhau về các phương diện như sự bảo đảm về thanh toán, thứ tự ưu tiên thanh toán hay thời gian đáo hạn. Tùy theo từng loại tài sản được tài trợ mà thời gian đáo hạn của khoản cho vay cũng sẽ biến đổi. Tài sản cố định thường được tài trợ bởi khoản nợ vay dài hạn.
Ví dụ về thứ tự ưu tiên thanh toán là nợ vay được phát hành riêng lẻ và các khoản nợ vay ngân hàng thường được sẽ bảo đảm hơn và có thứ tự ưu tiên thanh toán cao hơn. Trong khi đó, những trái phiếu mà được phát hành ra công chúng sẽ có thứ tự ưu tiên thanh toán thấp và rất ít bảo đảm.