CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HIỆU QUA KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Phân tích hiệu quả kinh doanh không phải là vấn đề quá mới mẻ trong nghiên cứu khoa học. vấn đề này đã được đề cập và nghiên cứu từ lâu. Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của hiệu quả kinh doanh.1 Các nghiên cứu trong nước về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nguyễn Quốc Nghi va Mai Văn Nam (201 1) nghiên cứu về Các nhân tổ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Thành phố Can Thơ.
Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố anh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở Tp. Cỡ mẫu được chon là 389 DNNVV. Nhóm tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi qui tuyến tính đa biến. Nghiên cứu này sử dụng phần mềm SPSS để hỗ trợ phân tích số liệu.
Phương pháp thống kê mô tả với các chỉ tiêu như số trung bình, tỷ lệ, tần suất, độ lệch chuẩn được sử dụng dé phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của DNNVV. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các nhân tổ mức độ tiếp cận chính sách hỗ trợ của Chính phủ, trình độ học vấn của chủ doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp, các mối quan hệ xã hội của doanh nghiệp và tốc độ tăng doanh thu ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNNVV ở Tp. Nguyễn Văn Duy & Phạm Văn Hùng (2017) trong nghiên cứu Phân tích tác động của các nhân tô đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Hải Dương sử dụng 2 nguồn dữ liệu phục vụ cho phân tích: Số liệu sơ caaos được thu thập từ các báo cáo tai chính, tài liệu, thông tin của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương, các báo cáo khoa học về tình hình sản xuất kinh doanh và cạnh tranh của các DNNVV; Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn 103 DNNNYV tại huyện Kinh môn và thành phố Hải Dương. Số liệu thu thập được làm sạch và xử lý băng phần mềm SPSS.
Các phương pháp cơ bản như thống kê mô tả, phương pháp so sánh được sử dụng trong nghiên cứu. Các yếu tố được thu thập sử dụng thang đo Likert với 5 mức từ khó khăn đến thuận lợi. Kết quả hoạt động kinh doanh của DN được đo băng mức độ hài lòng của chủ doanh nghiệp về kết quả kinh doanh của họ. Các nhân tố đưa vào bảng hỏi được kiểm định bằng phương pháp Cronbach’s Alpha, sử dụng phương pháp kiểm định KMO dé đánh giá chất lượng và xếp hạng đữ liệu.
Phương pháp phân tích nhân tố được sử dụng để xác định các yếu tố thành phần. Kết quả cho thấy có 3 nhóm nhân tố: chính sách, năng lực nội tại và vốn của doanh nghiệp ảnh hưởng đến sự hài lòng của chủ doanh nghiệp đối với kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, trong đó nhóm “năng lực nội tại của doanh nghiệp” có tác động lớn nhất đến sự hài lòng của chủ doanh nghiệp. Tập trung nghiên cứu những nhân tô ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yếu, Huỳnh Thị Tuyết Phượng (2016) tiến hành ước lượng các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các DN, sử dụng số liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tải chính đã được kiểm toán của 180 DN niêm yết trên HoSE từ năm 2011 đến 2015 (nhưng loại trừ các DN thuộc ngành Tài chính bao gồm: Ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm, quỹ/công ty đầu tư, những DN thuộc diện kiểm soát đặc biệt và những DN có số liệu bất thường). Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng băng cách sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bảng, sử dung phần mềm Stata 14 hỗ trợ chạy số liệu, phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết trên HoSE.
Đồng thời, dựa vào lý thuyết về hiệu quả hoạt động, các chỉ sé trong các bao cáo tài chính, các nghiên cứu thực nghiệm trước đó và quan điểm cá nhân dé đề xuất các biến độc lập, mô hình nghiên cứu xác định biến phụ thuộc ROA là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, ROE là tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu của DN; Các biến độc lập (DE) là cơ cau vốn, (TC) là quản trị nợ phải thu khách hang, (TANG) đầu tư tài sản cố định, (RISK) là rủi ro kinh doanh, (SIZE) là quy mô, (GROWTH) là tốc độ tăng trưởng, (AGE) là thời gian hoạt động của DN. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong tất cả 7 biến được đưa vào mô hình thì có 6 biến giải thích được mức độ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các DN thông qua biến phụ thuộc ROA với mức ý nghĩa cao nhất là 1%, cụ thé như sau: Tác động của biến số DE — Co cấu vốn: Nghiên cứu kỳ vọng cơ cau vốn tác động âm tới ROA nhưng lại tác động đương tới ROE. Kết quả hệ số hồi quy của DE đều tác động tiêu cực đến cả ROA và ROE. Nói cách khác, DN không sử dụng hiệu quả sử dụng nợ đứng ở góc độ tổng tài sản và ở góc độ vốn chủ sở hữu.
Khi đó, nếu tỷ lệ nợ tăng 1% thì ROA giảm 0,18% và ROE giảm 0,16%. Tác động của biến số TC — Quản trị nợ phải thu: Kết quả hồi quy đã chấp nhận hai giả thuyết này khi hệ số beta của hai mô hình đều âm và có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên, theo kết quả ước lượng thì mức tác động nay khá nhỏ, nếu nợ phải thu tăng 1% sẽ làm cho ROA giảm 0.0072% va ROE giảm 0,0151%. Tác động của biến số TANG - Đầu tư tài sản cố định: Nghiên cứu kỳ vọng biến số TANG có tác động âm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN.
Kết quả hồi quy đã ủng hộ hai giả thuyết này khi hệ số hồi quy của biến số này ở hai mô hình lần lượt là -0.039 và có ý nghĩa thống kê. Khi đó, nếu tỷ lệ đầu tư tài sản cố định tăng 1% thì ROA giảm 0,028% và ROE giảm 0,039%. Tác động của biến số RISK — Rui ro kinh doanh: Kết quả hồi quy đã chấp nhận tác động dương của biến số RISK đến ROA mặc dù mức độ tăng không đáng kể, qua đó, nếu RISK tăng 1% thì ROA chỉ tăng 0,000005% và hệ số này không có ý nghĩa thống kê trong mô hình ROE, nghĩa là rủi ro kinh doanh không có tác động đến ROE. Tác động của biến số SIZE — Quy mô của DN: Nghiên cứu kỳ vọng tác động dương của biến số SIZE tới ROA và ROE.
Tuy nhiên, biến này chỉ có ý nghĩa đối với chỉ tiêu ROE với hệ số hồi quy là 1,21586, nghĩa là khi tong tài sản tăng 1% thi ROE sẽ tăng 1,22%. Tác động của biến số GROWTH - Tốc độ tăng trưởng: Nghiên cứu kỳ vọng rằng tốc độ tăng trưởng sẽ tác động tích cực tới ROA và ROE. Kết quả hồi quy đã chứng minh hai giả thuyết trên là đúng khi mức tác động biên của tốc độ tăng trưởng tới ROA là 0,00801 và ROE là 0,02831, nghĩa là khi doanh thu tăng 1% thì ROA sẽ tăng khoảng 0,008% và ROE sẽ tăng khoảng 0,028%. Tác động của biến số AGE - Thời gian hoạt động của DN: Kết quả hệ số hồi quy ở cả hai mô hình đều mang dau âm và có ý nghĩa thống kê.
Hệ số hồi quy cua AGE tới ROA là -0,1848 và ROE là -0,4046. Nói cách khác là khi thời gian hoạt động cua DN tăng thêm l1 năm thi ROA giảm 0,18% và ROE giảm 0,4%. Mai Diễm Lan Hương (2017) tìm hiểu hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở tỉnh Khánh Hòa. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này được thu thập trực tiếp từ báo cáo tài chính của 20 doanh nghiệp trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2016.
Để đánh giá hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp, nhóm tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả trên cơ sở số liệu thu thập được. Các chỉ tiêu được sử dụng bao gồm: Khả năng thanh toán hiện hành, vòng quay tổng tài sản, vòng quay hàng tồn kho, kỳ thu tiền bình quân, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu. Kết quả nghiên cứu cho thấy ROE trung bình của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được chọn dé nghiên cứu đạt ở mức thấp nhất vào năm 2013 và cao nhất vào năm 2016. Nhìn chung, tỷ suất lợi nhuận của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoai có sự biến động khá lớn theo thời gian.
Do hoạt động kinh doanh chủ yếu của các doanh nghiệp được khảo sát là sản xuất phụ kiện thép tàu biến, chế biến và nuôi trồng thủy sản, sản xuất và chế biến sản phẩm từ thủy sản, du lịch resort; mà vốn đầu tư vào các doanh nghiệp này phần lớn là vốn đầu tư nước ngoài nên nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở tỉnh Khánh Hòa cũng giống như các doanh nghiệp trong nước gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng tình hình kinh tế thế giới và khu vực. Ngoài ra, chỉ phí đầu vào tăng như giá điện đã tăng 3 lần, lương và bảo hiểm xã hội tăng trong năm 2015 sẽ cộng thêm vào khó khăn đối với một số doanh nghiệp FDI. Đối với các dự án trong lĩnh vực du lịch, ngoài một số khó khăn về đền bù giải tỏa, sự sẵn sảng của hạ tầng kỹ thuật, thì lớn nhất vẫn là tiến độ triển khai dự án của nhà dau tư còn chậm trong bối cảnh khủng hoảng của thị trường bat động sản nói chung và bat động sản du lịch nghỉ dưỡng nói riêng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở tỉnh Khánh Hòa còn thấp, chưa tương xứng với lợi thế mà các doanh nghiệp này có được.
Trên cơ sở kết quả phân tích, nghiên cứu, đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài ở tỉnh Khánh Hòa.