CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC VỐN VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG LÊN CẤU TRÚC VỐN DN 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN CẤU TRÚC VỐN DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm Khái niệm cấu trúc trong nghĩa chung nhất là đề cập đến các bộ phận cấu thành và mối liên hệ của chúng trong tổng thể, quá trình vận động tương tác giữa các bộ phận cấu thành qui định bản chất của tổng thể đó. Đề cập đến bộ phận cấu thành của tổng thể là đề cập đến vai trò, chức năng của nó trong tổng thể, thể hiện qua tính chất và mức độ tác động của bộ phận đến tổng thể đó. Vốn trong DN thể hiện nguồn lực tài chính bên trong của DN bao gồm vốn góp của chủ sở hữu, từ nguồn lợi nhuận hoạt động để lại của DN và các nguồn lực bên ngoài từ các nhà đầu tư bên ngoài có thể là nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội, các tổ chức tín dụng (ngân hàng, quỹ tín dụng,…), các nhà đầu tư tư nhân,… Trong các tài liệu liên quan đến vốn các tác giả thường đề cập đến thuật ngữ cấu trúc vốn và cấu trúc tài chính. Cấu trúc vốn hay còn gọi là cấu trúc nguồn vốn là một bộ phận cấu thành nên cấu trúc tài chính, được định nghĩa là sự kết hợp của nợ phải trả(nợ ngắn hạn, nợ dài hạn) và vốn chủ sở hữu để hình thành nên toàn bộ nguồn vốn của DN [2,tr265].
Trong bảng cân đối kế toán, toàn bộ các khoản mục nằm bên phải của bảng cân đối kế toán là nguồn vốn của DN. Cấu trúc nguồn vốn thể hiện chính sách tài trợ của DN. Cấu trúc vốn hợp lý là sự kết hợp về mặt tỷ trọng giữa nợ phải trả và VCSH trong tổng nguồn vốn để nhằm mục đích làm tối đa hóa tỷ suất sinh lời của vốn chủ (ROE) và từ đó sẽ làm gia tăng tối đa giá trị ròng của DN. 9 CẤU TRÚC TÀI CHÍNH CẤU TRÚC TÀI SẢN CẤU TRÚC VỐN Tài sản Tài sản Nợ Vốn chủ ngắn hạn dài hạn phải trả sở hữu Cấu trúc vốn tối ưu là cấu trúc vốn làm tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) và tối đa hóa giá trị cổ phiếu của công ty, cấu trúc vốn này thường có tỷ suất nợ vay thấp hơn mức nợ vay làm tối đa hóa EPS hay ROE dự tính [1, tr576].2 Thành phần của cấu trúc vốn Theo khái niệm cấu trúc vốn ở phần 1.1, thành phần cơ bản trong cấu trúc vốn gồm 2 bộ phận chủ yếu là nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu.
Tính chất của hai nguồn vốn này hoàn toàn khác nhau về trách nhiệm pháp lý của DN. Nguồn vốn chủ sở hữu: Là số tiền do các nhà đầu tư, các sáng lập viên đóng góp hoặc được hình thành từ kết quả hoạt động kinh doanh của DN. Đây không phải là một khoản nợ và do đó DN không có trách nhiệm phải thanh toán. Với những loại hình DN khác nhau, vốn chủ sở hữu được hình thành khác nhau và gồm 3 loại sau: - Vốn điều lệ: Là số tiền do các thành viên sáng lập đóng góp ban đầu khi thành lập.
Đây chính là số vốn được ghi trong điều lệ DN. Riêng đối với các công ty cổ phần, nguồn vốn chủ yếu do các cổ đông đóng góp dưới hình thức mua cổ phiếu phát hành của công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị số cổ phần mà họ nắm giữ. Đây không phải là khoản nợ nên các công ty cổ phần được toàn quyền sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh mà không phải cam kết và ràng buộc về nghĩa vụ thanh toán.
Chính từ đặc điểm này cho thấy mức độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần phụ thuộc rất nhiều vào nguồn vốn này, vốn góp cổ phần càng lớn thì mức độ tự chủ về vốn trong sản xuất kinh doanh càng cao. 10 - Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia: Là phần thu nhập của công ty được cổ đông đồng ý cho công ty giữ lại để tái đầu tư thay vì nhận cổ tức. Đây là nguồn vốn rất chủ động và thuận tiện cho công ty. Tuy nhiên, công ty phải cam kết trả cho cổ đông lãi suất cao hơn cổ tức hiện tại.
- Nguồn vốn từ phát hành thêm cổ phiếu: Các doanh nghiệp có thể tăng vốn chủ sở hữu bằng cách phát hành thêm cổ phiếu mới. Đây chính là kênh huy động vốn rất quan trọng trong chiến lược tài trợ dài hạn của các doanh nghiệp. Các công ty cổ phần có thể phát hành cổ phiếu thông qua thị trường chứng khoán. Khi phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, các công ty cổ phần niêm yết các thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả kinh doanh và các thông tin khác để nhà đầu tư có thể đánh giá được triển vọng của công ty trong tương lai.
Trong trường hợp không đủ điều kiện phát hành chứng khoán trên thị trường, công ty có thể phát hành cổ phiếu trực tiếp cho các cổ đông là những người có quan hệ mật thiết với công ty như cán bộ công nhân viên hay là các đối tác thường xuyên của công ty. - Vốn chủ sở hữu khác: Bao gồm các nguồn vốn và các qũy chuyên dùng được hình thành chủ yếu từ việc phân phối lợi nhuận, bao gồm: quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tài chính, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chênh lệch tỷ giá hối đoái… Nợ phải trả: Là số vốn vay, vốn chiếm dụng của các tổ chức, cá nhân mà đơn vị có nghĩa vụ phải thanh toán. Nợ phải trả được phân loại theo thời hạn thanh toán, gồm có: - Nợ ngắn hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán dưới 1 năm. Nợ ngắn hạn thường bao gồm: Vay ngắn hạn ngân hàng, khoản phải trả nhà cung cấp hay còn gọi là tín dụng nhà cung cấp, các khoản phải nộp cho cơ quan quản lý nhà nước, các khoản phải trả cán bộ công nhân viên, trái phiếu ngắn hạn,… - Nợ dài hạn: Là các khoản nợ có thời hạn thanh toán trên 1 năm.
Nợ dài hạn là nguồn vốn dài hạn quan trọng của công ty. Nợ dài hạn gồm có: Vay dài hạn ngân hàng, doanh thu chưa thực hiện, phát hành trái phiếu dài hạn,… 11 Bảng 1.1: So sánh nợ và vốn chủ sở hữu TIÊU CHÍ VỐN CHỦ SỞ HỮU NỢ PHẢI TRẢ 1. Trách nhiệm thanh toán - Không phải trả lãi - Phải trả lãi cho mà chia lời tùy theo kết khoản tiền đã vay, trừ các quả hoạt động kinh doanh khoản nợ chiếm dụng và chính sách phân phối lợi - Khi DN bị giải thể nhuận. phải thanh lý tài sản thì - Không phải cam kết DN có trách nhiệm thanh thanh toán đối với người toán cho chủ nợ trước góp vốn với tư cách là chủ sở hữu 2.
Thời hạn thanh toán Không có thời hạn hoàn trả Có thời hạn hoàn trả 3. Ảnh hưởng đến thuế Thu Lợi nhuận chia cho chủ sở Lãi vay được tính vào chi nhập DN hữu không làm giảm thuế phí khi xác định lợi nhuận thu nhập DN chịu thuế thu nhập, do vậy lãi vay có tác động làm giảm thuế thu nhập DN. Chi phí sử dụng vốn Chi phí sử dụng vốn chủ sở Chi phí thấp hơn so với chi hữu cao phí sử dụng vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp Xuất phát từ khái niệm trên cho thấy, cấu trúc vốn thể hiện chính sách tài trợ của DN nên khi phân tích cấu trúc vốn cần xem xét khả năng sử dụng nguồn vốn tự có của DN hay phải sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài DN.
Có nhiều chỉ tiêu thể hiện khả năng này, việc lựa chọn chỉ tiêu nào tùy thuộc vào ý nghĩa mà chỉ tiêu đó mang lại cho người sử dụng và phù hợp với mục tiêu cần xem xét. Chỉ tiêu được sử dụng phổ biến là chỉ tiêu tỷ suất nợ và đây cũng là chỉ tiêu mà luận văn lựa chọn sử dụng trong quá trình nghiên cứu về cấu trúc vốn DN ngành BĐS niêm yết trên SGDCK TP. Nợ phải trả Tỷ suất nợ (D/A) = x 100% Tổng tài sản 12 Chỉ tiêu này phản ánh mối quan hệ giữa nợ phải trả và tổng tài sản. Nó cho biết mức độ tài trợ tài sản của DN bằng các khoản nợ, nghĩa là cho biết bao nhiêu phần trăm tài sản của DN được hình thành bằng nợ phải trả.
Khi tỷ suất nợ càng cao thì mức độ phụ thuộc của DN vào chủ nợ càng lớn và khả năng tiếp nhận các khoản vay nợ càng khó một khi DN không thanh toán kịp thời các khoản nợ và hiệu quả hoạt động kém. Đối với các chủ nợ tỷ suất này càng cao thì khả năng thu hồi vốn cho các khoản nợ của họ càng giảm vì giá thực tế khi thanh lý tài sản sẽ nhỏ hơn giá ghi sổ của tài sản nếu chủ nợ phải bán để thu hồi vốn. Do vậy, các chủ nợ thường thích những DN có tỷ suất nợ thấp. Đây là một trong các chỉ tiêu để các nhà đầu tư đánh giá rủi ro và cấp tín dụng cho DN.
Tóm lại, về mặt bản chất, cấu trúc vốn là quan hệ giữa nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu của DN, được thể hiện bằng chỉ tiêu tỷ suất nợ của DN. Để đạt được một cấu trúc vốn hợp lý hướng đến tối đa hóa giá trị của DN là nội dung quan trọng nhất phản ánh cấu trúc vốn của DN.4 Vai trò của cấu trúc vốn Mục tiêu của mọi DN là hoạt động SXKD có hiệu quả và hướng đến sự phát triển bền vững. Mục tiêu này có đạt được hay không tùy thuộc vào nhiều yếu tố quan trọng có tính quyết định, một trong số đó là vấn đề lựa chọn cấu trúc vốn hợp lý. Như vậy, cấu trúc vốn có vai trò hết sức quan trọng.
Một cấu trúc vốn hợp lý sẽ phát huy được hiệu ứng tích cực của đòn cân nợ, giảm thiểu đến mức thấp nhất chi phí sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và góp phần tối đa hóa giá trị DN. DN làm ăn hiệu quả sẽ đóng góp nhiều cho ngân sách nhà nước, góp phần vào tăng trưởng kinh tế đất nước.