chương 1 được xem là cơ sở nền tảng mà khóa luận có thể bám sát và là kim chỉ nam định hướng cho tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu được thực hiện ở các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Các lý thuyết có liên quan Quan điểm dựa trên nguồn lực (Resources Based View) Quan điểm này nhận định rằng các doanh nghiệp cần cố gắng tận dụng các nguồn lực nội tại của chính mình để đạt được và duy trì lợi thế cạnh tranh. Nói cách khác, Quan điểm dựa trên nguồn lực là một mô hình xem nguồn lực nội bộ chính là chìa khóa giúp doanh nghiệp gia tăng hiệu quả hoạt động vượt trội (Wernerfelt, 1984).
Theo Andriessen (2004), nguồn lực nội bộ được phân chia thành hai nhóm nguồn lực chính là: Nguồn lực hữu hình bao gồm: các nguồn tài sản hữu hình như nguồn tài chính và nguồn nhân lực bao gồm bất động sản, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhà máy, hàng tồn kho, thương hiệu, bằng sáng chế,. Nguồn lực vô hình bao gồm: danh tiếng, uy tín thương hiệu, văn hóa của doanh nghiệp, kiến thức hoặc bí quyết kinh doanh, kinh nghiệm tích lũy, mối quan hệ với khách hàng, đối tác, nhà cung cấp hoặc các bên liên quan khác đối với tổ chức kinh doanh; khả năng học hỏi và nghiên cứu, khả năng sáng tạo và phát triển,… Ngoài ra, thông qua Quan điểm dựa trên nguồn lực, các nghiên cứu của Barney (1986, 1991), Peteraf (1993) và Rumelt (1984) sử dụng nguồn lực làm đơn vị phân tích, lý thuyết này tìm cách giải thích mức độ mà một công ty có thể duy trì vị thế có lợi thế cạnh tranh. Theo Barney (1991), để một doanh nghiệp có thể duy trì Lợi thế cạnh tranh bền vững (SCA), các nguồn lực sở hữu của doanh nghiệp cần có các thuộc tính sau: (1) nguồn lực đó phải có giá trị cao; (2) nguồn lực đó phải khan hiếm; (3) nguồn lực đó hoàn toàn không thể bắt chước được; (4) nguồn lực đó hoàn toàn không thể thay thế được. Những nguồn lực nếu có tính giá trị cao có thể được sử dụng để khai thác được nhiều cơ hội hơn và vô hiệu hóa các mối đe dọa trong môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
Nguồn lực có tính khan hiếm là những 9 nguồn cung cấp hạn chế và không được phân bổ đồng đều giữa các đối thủ cạnh tranh tiềm năng trong khoảng thời gian hiện tại của một công ty. Tính không thể bắt chước đề cập đến mức độ mà các công ty khác khó sao chép lại các nguồn lực, điều này có thể là do các yếu tố như sự phức tạp xã hội (Dierickx và Cool 1989), sự mơ hồ về nguyên nhân và hoàn cảnh lịch sử cụ thể (Barney 1991). Tính không thể thay thế của tài nguyên hàm ý rằng một tài nguyên không thể được thay thế (hoặc thay thế) một cách đơn giản bằng một tài nguyên khác. Chính vì vậy, quan điểm dựa trên nguồn lực là một trong những lý thuyết được sử dụng trong nghiên cứu này vì nó sẽ giúp mô tả tác động của các đặc tính thuộc các yếu tố nội tại, chẳng hạn như mô tả tác động của nhân tố quy mô và nhân tố thời gian hoạt động đến biến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp.
Lý thuyết lợi thế kinh tế nhờ quy mô Khi tìm hiểu về kinh tế học vi mô, lợi thế kinh tế theo quy mô là lợi thế về chi phí mà doanh nghiệp thu được nhờ quy mô hoạt động của họ và thường được đo bằng tổng số lượng sản phẩm sản xuất ra trên một đơn vị thời gian. Việc giảm chi phí trên một đơn vị sản lượng cho phép tăng quy mô. Trên cơ sở tính kinh tế theo quy mô, có thể có các yếu tố kỹ thuật, thống kê, tổ chức hoặc liên quan đến mức độ kiểm soát thị trường. Nhân tố quy mô của doanh nghiệp thường nắm giữ vai trò quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn khi xét về những lợi thế kinh tế mà doanh nghiệp được hưởng nhờ quy mô.
Nghĩa là, các tổ chức kinh doanh sở hữu quy mô càng lớn thì các loại chi phí sẽ tiết kiệm được càng nhiều. Đối với tất cả doanh nghiệp kinh doanh trong hầu hết ở mọi lĩnh vực, việc hiểu rõ khái niệm và áp dụng hiệu quả lợi thế kinh tế nhờ quy mô là vô cùng cần thiết và quan trọng. Bởi vì lý thuyết này cho thấy các tổ chức nếu kinh doanh với quy mô rộng lớn có thể cắt giảm khá nhiều các loại chi phí và tăng khả năng cạnh tranh so với các tổ chức sở hữu quy mô kinh doanh bé hơn. 10 Có một số lý do giải thích tại sao tính kinh tế theo quy mô sẽ có ích trong việc cắt giảm chi phí trên mỗi đơn vị sản xuất.
Đầu tiên, việc gia tăng quy mô đòi hỏi doanh nghiệp áp dụng chuyên môn hóa lao động và tích hợp công nghệ vào sản xuất, từ đó thúc đẩy gia tăng khối lượng sản xuất. Thứ hai, chi phí trên mỗi đơn vị sản xuất sẽ thấp hơn nhờ vào các đơn đặt hàng với số lượng lớn từ nhà cung cấp, từ đó giúp giảm chi phí vốn và chi phí nguyên vật liệu. Thứ ba, phân bổ chi phí chức năng nội bộ trên nhiều đơn vị được sản xuất giúp giảm chi phí. Chính vì vậy, để có thể đánh giá thực trạng tác động của nhân tố quy mô doanh nghiệp đến biến phụ thuộc là khả năng sinh lời của doanh nghiệp, nhiều nghiên cứu đã sử dụng lý thuyết lợi thế kinh tế nhờ quy mô (Thủy và cộng sự, 2022).
Giả thuyết về kinh tế vĩ mô Kinh tế học vĩ mô là một lĩnh vực thuộc kinh tế học, tập trung phân tích và nghiên cứu sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế tổng thể của một quốc gia. Giả thuyết kinh tế vĩ mô tập trung xem xét, phân tích các hiện tượng hiện hữu trong toàn bộ nền kinh tế như lạm phát, mức giá, tốc độ tăng trưởng kinh tế, thu nhập quốc dân, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và thay đổi tỷ lệ thất nghiệp. Một số vấn đề chính yếu mà kinh tế học vĩ mô giải quyết bao gồm tìm hiểu nguyên nhân gây ra các hiện tượng trên, xác định yếu tố kích thích tăng trưởng kinh tế,…Kinh tế học vĩ mô cố gắng đo lường mức độ hiệu quả của một nền kinh tế, hiểu những yếu tố nào thúc đẩy nó và dự đoán hiệu suất có thể cải thiện như thế nào. Ngoài ra, các nhà kinh tế vĩ mô phát triển các mô hình giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố này.
Các mô hình này và các dự báo do chúng tạo ra được các cơ quan chính phủ sử dụng để hỗ trợ xây dựng và đánh giá chính sách kinh tế, tiền tệ và tài khóa. Hơn thế nữa, giả thuyết kinh tế vĩ mô còn cung cấp thông tin về mối quan hệ giữa các biến số thuộc kinh tế vĩ mô và tình trạng kinh doanh của doanh nghiệp (Linh và Nga, 2022). Theo Mwangi (2013), "giả thuyết này dựa trên giả định rằng, các biến số kinh tế vĩ mô, chẳng hạn như tỷ lệ GDP, lãi suất và tỷ lệ lạm phát, ảnh hưởng lẫn nhau và ảnh hưởng đến hoạt động của một doanh nghiệp". Có thể kể đến 11 lần lượt các nghiên cứu của Faria và Carneiro (2001), Robert (2013), Sử Đình Thành (2015) đều khẳng định khi khoảng thời gian được xét là dài hạn, yếu tố tốc độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát có mối tương quan với nhau.
Lý thuyết về lạm phát do chi phí đẩy Khi bàn về lý thuyết lạm phát do chi phí đẩy, hiện tượng lạm phát được định nghĩa là một hiện tượng mà trong đó mức giá chung tăng do chi phí tiền lương và nguyên vật liệu tăng (Totonchi, 2011). Một trong những người tiên phong ủng hộ lý thuyết chi phí đẩy là James Steuart (1767). Theo nghiên cứu của ông, tình trạng lạm phát xảy ra do sự tác động của các lực lượng xác định giá của từng loại hàng hóa. Trong đó, các lực lượng có khả năng chi phối giá của hàng hóa cụ thể là yếu tố cạnh tranh và chi phí.
Tính cạnh tranh làm giảm giá cũng như làm giảm chi phí. Theo Jhingan (1997), nguyên nhân của hiện tượng lạm phát chi phí đẩy là do giá nguyên vật liệu sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu tăng. Giá nguyên vật liệu tăng làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Điều này dẫn đến giá thành tăng cao hơn bởi vì các công ty sẽ chuyển phần tăng chi phí cho người tiêu dùng.
Nghĩa là, các doanh nghiệp buộc phải tăng giá thành sản phẩm hoặc dịch vụ để có thể đạt được mục tiêu tăng tỷ suất lợi nhuận. Bên cạnh đó, chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng sẽ tăng khi chi phí tiền lương tăng, để đảm bảo yếu tố lợi nhuận luôn phát triển tích cực, các tổ chức kinh doanh cũng buộc phải tăng giá bán sản phẩm và dịch vụ. Theo Totonchi (2011), khi xảy ra tình trạng giá cả của một số ngành tăng lên, nhất là đối với các ngành sản xuất và cung cấp yếu tố đầu vào cho những ngành khác, dẫn đến giá thành sản phẩm và dịch vụ của những ngành thu mua yếu tố đầu vào đó cũng gia tăng. Từ đó, hiệu ứng Domino sẽ xảy ra khi giá cả của hầu hết của các ngành có xu hướng tăng và tác động đến nền kinh tế.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp ngoại lệ, hoạt động kinh doanh và sản xuất của các tổ chức và toàn ngành sẽ được thúc đẩy phát triển tích cực khi mức độ gia tăng tỷ lệ lạm phát được kiểm soát hợp lý (Bùi và cộng sự, 2020). 12 Điều đó cũng có nghĩa, khi Chính phủ không thể kiểm soát và để tỷ lệ lạm phát ngày càng tăng cao, điều này sẽ tác động tiêu cực đến lượng cầu. Dựa trên lý thuyết này, "lạm phát luôn có tác động đáng kể đến chi phí hoạt động kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp và sức mua của người dân; từ đó, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Khái niệm khả năng sinh lời Khả năng sinh lời từ lâu luôn là vấn đề được quan tâm bậc nhất đối với các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực kế toán và tài chính.
Nói một cách đơn giản, theo Hermanson & Edward (2005), khả năng sinh lời là khả năng tạo ra thu nhập của một tổ chức kinh doanh. Đồng quan điểm đó, Warrad và Al Omari (2015) cũng đưa ra nhận định rằng khả năng sinh lời cung cấp một cái nhìn tổng quan về việc tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp.