CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 1.1 Lợi nhuận ngân hàng NHTM có 02 nghiệp vụ chủ yếu: huy động và cho vay. Trong nghiệp vụ huy động, ngân hàng trả lợi tức cho người nhận tiền, còn trong nghiệp vụ cho vay, ngân hàng thu lợi tức của người đi vay. Về nguyên tắc, lợi tức cho vay phải cao hơn lợi tức huy động. Chênh lệch giữa lợi tức cho vay và lợi tức huy động sau khi trừ đi những chi phí về nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng cộng với các thu nhập khác về kinh doanh tư bản tiền tệ hình thành nên lợi nhuận ngân hàng.2 Tỷ suất sinh lợi của NHTM Tỷ suất sinh lợi của các NHTM thường được đo lường bằng hai chỉ tiêu là tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) chỉ ra bao nhiêu lợi nhuận các ngân hàng thương mại có thể tạo ra bằng cách sử dụng một đơn vị tài sản, mặc dù nó có thể bị bóp méo bởi các hoạt động ngoại bảng.
Tuy nhiên, đối với các NHTM Việt Nam, các hoạt động này là không đáng kể. ROA có thể cho thấy khả năng của các ngân hàng trong việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính để tạo ra lợi nhuận. ROA là chỉ tiêu quan trọng để so sánh hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho thấy hiệu quả quản lý của các ngân hàng trong việc sử dụng vốn cổ đông.
Các ngân hàng có xu hướng sử dụng đòn bẩy cao, do đó họ thường đạt được ROE cao nhưng ROA thấp. ROE có thể được tính bằng cách nhân ROA với tỷ số tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu và đòn bẩy tài chính có thể tác động đến giá trị của ROE. 7 Cả hai tỷ số ROA và ROE đều là tiêu chí quan trọng đối với cơ quan quản lý và các ngân hàng, nhà đầu tư trong việc đưa ra các quyết định chiến lược quản lý, đầu tư phù hợp.3 Các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thương mại 1.1 Yếu tố nội tại của ngân hàng 1.1 Rủi ro tín dụng Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng là một biến số quan trọng trong nghiên cứu các nhân tố tác động đến tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Athanasoglou et al.
(2005) chứng minh rằng sự thay đổi của rủi ro tín dụng là lý do chính trong việc giải thích các biến động trong tỷ suất sinh lợi của ngân hàng, vì tỷ suất sinh lợi của ngân hàng sẽ giảm khi rủi ro tín dụng tăng lên. Ở một khía cạnh nào đó thì nghiên cứu của Alper và Anbar (2011) cũng có sự tương đồng với nghiên cứu của Athanasoglou et al. (2005) vì bài nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ suất sinh lợi của các ngân hàng sẽ thấp hơn khi họ phải đối mặt với các khoản vay có nguy cơ mất khả năng thanh toán. Trong cùng một cách tiếp cận, Trujillo- Ponce (2012) đã cho thấy rủi ro tín dụng có tác động tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi.
Mối quan hệ nghịch biến phản ánh điều đó khi danh mục cho vay của các ngân hàng trở nên rủi ro, các ngân hàng phải trích dự phòng rủi ro nhiều hơn, từ đó ảnh hưởng đến lợi nhuận và tỷ suất sinh lợi của ngân hàng. Vì vậy, các ngân hàng với các khoản cho vay có rủi ro tín dụng cao hơn sẽ có tỷ suất sinh lợi thấp hơn.2 Tính thanh khoản Bourke (1989) đã sử dụng tỷ số tài sản lưu động (tổng tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, đầu tư chứng khoán) trên tổng tài sản để đo lường tính thanh khoản. Trong nghiên cứu của mình, ông đã khai thác dữ liệu từ các báo cáo tài chính của một mẫu gồm 90 ngân hàng từ 12 quốc gia trong mười năm từ 1972 đến 1981. Kết quả này cho thấy rằng tính thanh khoản có tác động cùng chiều lên tỷ suất sinh lợi, gia tăng tỷ số này sẽ nâng cao tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng.
Molyneux và 8 Thornton (1992) đã mở rộng các phương pháp luận của Bourke (1989) bằng cách sử dụng tỷ số tài sản lưu động trên tổng tài sản để đo lường rủi ro thanh khoản, kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng có một mối quan hệ nghịch chiều giữa tính thanh khoản và tỷ suất sinh lợi trong số 18 nước Châu Âu từ năm 1986 đến 1989. Sự trái chiều giữa các kết quả thực nghiệm của Molyneux và Thornton (1992) và Bourke (1989) có thể được giải thích bởi sự khác biệt trong độ nhạy cảm của nhu cầu vay vốn tại các khoảng thời gian khác nhau.3 Quản lý chi phí Hầu hết các nghiên cứu đều khẳng định tỷ lệ chi phí hoạt động tác động tiêu cực lên tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng (Bourke, 1989). Nói chung, việc giảm chi phí, nghĩa là hiệu quả kinh doanh được cải thiện, sẽ làm tăng tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng. Athanasoglou et al.
(2005) chứng minh rằng tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng có tương quan âm với tỷ lệ chi phí hoạt động. Mối quan hệ ngược chiều này cho thấy sự yếu kém trong khả năng quản lý chi phí ngoài trả lãi của các ngân hàng Hy Lạp. Mối quan hệ này cũng cho thấy rằng sự cạnh tranh buộc các ngân hàng Hy Lạp phải tiến hành cắt giảm chi phí, thay vì tăng tỷ suất lợi nhuận bằng cách tăng phí hoặc lãi suất đối với khách hàng.4 Quy mô ngân hàng Quy mô ngân hàng là một trong các yếu tố nội bộ quyết định tỷ suất lợi nhuận vì trên thực tế các ngân hàng luôn cố gắng mở rộng kinh doanh của mình bằng cách tăng tài sản và nguồn vốn. Nói chung, các ngân hàng lớn có thể đạt được tỷ suất lợi nhuận cao từ lợi thế kinh tế theo quy mô trong hệ thống ngân hàng.
Biến số quy mô cũng bao hàm các yếu tố về chi phí, đa dạng hóa sản phẩm và rủi ro. Một mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng là kết quả thực nghiệm từ nghiên cứu của Alper và Anbar (2011). Có một lượng lớn các nghiên cứu về ảnh hưởng của lợi thế kinh tế theo quy mô đến tỷ suất lợi nhuận ngân hàng. Bourke (1989); Molyneux và Thornton (1992); Bikker và Hu năm (2002); Goddard et al., (2004) chứng minh rằng lợi thế kinh tế theo quy mô 9 là kết quả của mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô và tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng.
Mặt khác, tỷ suất lợi nhuận của các ngân hàng lại có quan hệ ngược chiều với khả năng đa dạng hóa. Các ngân hàng tận dụng lợi thế của sự đa dạng hóa nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng, nhưng nó cũng có thể làm giảm tỷ suất lợi nhuận. Trong một nghiên cứu khác, Boyd, J. Runkle (1993) đồng ý rằng khái niệm lợi thế kinh tế theo quy mô liên quan đến quy mô của ngân hàng.
Về lý thuyết, nếu lợi thế kinh tế theo quy mô tồn tại, các tổ chức tài chính lớn hơn có thể cung cấp dịch vụ hiệu quả hơn với chi phí thấp hơn, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Athanasoglou P và cộng sự (2006) cho thấy một sự tăng trưởng thị phần của một ngân hàng có thể dẫn đến sự gia tăng trong tỷ suất sinh lợi và lợi nhuận. Điều này có thể được giải thích bởi giả định đó là các ngân hàng lớn được hưởng lợi từ lợi thế kinh tế theo quy mô bằng cách cung cấp dịch vụ của họ với giá rẻ hơn và hiệu quả hơn so với các ngân hàng nhỏ. Nếu Chính phủ tạo ra các rào cản nhằm hạn chế sự thành lập các ngân hàng mới (như Việt Nam đã làm trong năm 1997), các ngân hàng lớn sẽ thu được tỷ suất lợi nhuận cao hơn.
Trong khi đó, Eichengreen và Gibson (2001) đề xuất rằng sự gia tăng quy mô vốn chỉ tác động cùng chiều lên lợi nhuận đến một mức nhất định nào đó. Hơn nữa, họ cho rằng mối quan hệ giữa quy mô và lợi nhuận ngân hàng là phi tuyến tính.5 Vốn chủ sở hữu Về lý thuyết, Short (1979) lập luận rằng tỷ lệ vốn chủ sở hữu (tức là tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản) của một ngân hàng gắn liền với quy mô của nó bởi vì các ngân hàng lớn có xu hướng làm ra tỷ suất lợi nhuận nhiều hơn so với các ngân hàng nhỏ dựa vào khả năng huy động vốn ít tốn kém hơn. Tương tự như vậy, Bikker và Hu (2002), Goddard và cộng sự (2004) có cùng một lập luận rằng trong trường hợp các ngân hàng nhỏ và vừa, quy mô ngân hàng có liên quan đến tỷ suất lợi nhuận thông qua vốn chủ sở hữu. Ngoài ra, còn có một số bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ suất lợi nhuận, cụ thể, Bourke (1989) có cùng quan điểm với Short (1979).
Bourke chỉ ra rằng có 10 một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ suất lợi nhuận vì thực tế cho thấy các ngân hàng quản trị vốn tốt có thể tiếp cận nguồn vốn rẻ hơn và thị trường tài sản tốt hơn, vì các ngân hàng này có ít rủi ro hơn. Hơn nữa, các ngân hàng có tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao, duy trì sự thận trọng trong danh mục cho vay, cũng có thể cải thiện tỷ suất lợi nhuận. Cùng quan điểm đó, Molyneux và Thornton (1992), Williams, Molyneux và Thornton (1994) và Molyneux và Forbes (1995) cũng cho thấy một mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ suất lợi nhuận trong thị trường ngân hàng châu Âu. Thông qua mô hình kiểm định nhân quả Granger, Berger (1995) đã chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa vốn và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu tại các ngân hàng của Mỹ trong những năm 1980, nhưng mối quan hệ này đã đổi chiều vào năm 1990.
Trong nghiên cứu của mình, Berger mở rộng sự kiểm định bằng cách sử dụng các chi phí phá sản dự kiến. Ông lập luận rằng chi phí bảo hiểm cho các khoản nợ (không được bảo hiểm) thấp hơn sẽ tạo ra một tỷ lệ vốn chủ sở hữu và ROE cao hơn.2 Yếu tố kinh tế vĩ mô 1.1 Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực (RGDP) Đã có khá nhiều nghiên cứu kiểm định mức độ ảnh hưởng của tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực hàng năm RGDP lên tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng.