mở đầu này của nghiên cứu giới thiệu khái quát về lý do nghiên cứu hay tính cấp thiết trong thực tế mà hình thành nên ý tưởng cho luận văn, xác định mục tiêu và các câu hỏi đặt ra trong việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 – 2015. Từ đó, luận văn trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu sử dụng trong quá trình phân tích dữ liệu. Sau cùng là ý nghĩa và kết cấu của luận văn nghiên cứu. Các chương tiếp theo của luận văn, tác giả sẽ từng bước đi tìm bằng chứng để trả lời cho các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu ban đầu.
Nội dung chi tiết về cơ sở lý thuyết và nghiên cứu trước của các tác giả trong và ngoài nước trong thời gian qua về các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng sẽ được trình bày cụ thể trong chương 2 tiếp theo. Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A Trang 6 Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (Net Interest Margin - NIM) Hiệu quả hoạt động của một ngân hàng thường được phân tích bằng các tỷ số như lợi nhuận trên vốn cổ phần, lợi nhuận trên tài sản, thu nhập lãi cận biên (Rose, 1999). Thu nhập lãi cận biên là một trong những thước đo quan trọng nhất để đo lường hiệu quả tài chính trong một định chế nhận tiền gửi (Golin, 2001).
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của một ngân hàng (hay còn được gọi là biên độ lãi suất hoặc lợi nhuận (lãi) biên hoặc chênh lệch lãi suất ở một số nghiên cứu) được xác định bằng chênh lệch giữa tổng số tiền lãi nhận được từ hoạt động cho vay và tổng số tiền lãi phải trả cho các khoản nợ và các tài khoản tiền gửi, rồi chia cho tổng tài sản của ngân hàng đó (Demirguc-Kunt và Huizinga, 1999; Maudos và Guevara, 2004; Abreu và Mendes, 2003; Horváth, 2009; Fungáčová và Poghosyan, 2009). Hempel, Coleman và Simonson (1986) cho rằng thu nhập lãi cận biên là rất hữu ích trong việc đo lường những thay đổi và xu hướng trong biên độ lãi suất và so sánh thu nhập lãi giữa các ngân hàng. Thông thường, nếu hệ số NIM của ngành ngân hàng càng cao thì hệ thống trung gian tài chính càng kém hiệu quả (Rudra và Ghost, 2004). Hệ số NIM cao đồng nghĩa với lãi suất tiết kiệm thấp, khiến hạn chế nguồn tiền gửi, và lãi suất cho vay cao, khiến các doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận với các nguồn tín dụng (Fungáčová và Poghosyan, 2009).
Vì vậy, để giúp cho các doanh nghiệp và toàn nền kinh tế nói chung, NIM của các ngân hàng cần được kiểm soát ở một mức thấp, nghĩa là dòng vốn sẽ chảy qua hệ thống trung gian tài chính với chi phí thấp. Tuy nhiên, nếu hệ số NIM thấp quá thì sẽ có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận của các ngân hàng (Fungáčová và Poghosyan, 2009). Ở đây tồn tại xung đột lợi ích giữa người làm chính sách, có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích của xã hội, và hệ thống ngân hàng thương mại, có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận. Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A Trang 7 Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015 2.
Khung lý thuyết Sức mạnh thị trường (Market Power Framework) Lý thuyết Sức mạnh thị trường được dựa trên giả thuyết rằng sự tập trung của ngân hàng và các ràng buộc khác về cạnh tranh tạo ra một môi trường cản trở mà có tác động đến hành vi và hiệu suất của ngân hàng. Claeys và Vennet (2008) xác định hai giả thuyết trong khuôn khổ lý thuyết Sức mạnh thị trường: Giả thuyết Cấu trúc - Ứng xử - Hiệu suất (SCP: Structure – Conduct – Performance) truyền thống và giả thuyết sức mạnh thị trường tương đối (RMP: Relative Market Power). Giả thuyết SCP truyền thống khẳng định mối quan hệ cùng chiều giữa thu nhập lãi cận biên và cấu trúc thị trường chỉ ra hành vi định giá phi cạnh tranh trong thị trường tập trung hơn. Giả thuyết SCP về cơ bản được chấp nhận nếu có một mối quan hệ cùng chiều giữa sự tập trung thị trường (được đo bằng tỷ lệ tập trung) và hiệu suất (được đo bằng lợi nhuận) bất chấp hiệu quả của công ty (được đo bằng thị phần).
Claeys và Vennet (2008) đã xác định sự tập trung thị trường là mức độ mà một số lượng tương đối nhỏ của các ngân hàng tạo nên một tỷ lệ tương đối lớn của thị trường. Có thể kết luận rằng các ngân hàng đang hoạt động tại các thị trường tập trung cao sẽ phát huy sức mạnh thị trường nhiều hơn và làm cho lợi nhuận nhiều hơn so với các ngân hàng tại các thị trường ít tập trung, bất kể mức độ hiệu quả của các ngân hàng. Khuôn khổ lý thuyết SCP được bắt nguồn tại Đại học Harvard và xuất phát từ một phân tích tân cổ điển của thị trường (American Agricultural Economics Association, 2006). Giả thuyết Cấu trúc - Ứng xử - Hiệu suất (SCP) Trong mô hình SCP, sự tập trung ngân hàng được coi là chỉ số ngoại sinh của sức mạnh thị trường hoặc một chỉ số trái ngược của mức độ cạnh tranh.
Giá cả ngân hàng và lợi nhuận được coi là chỉ số nội sinh tương ứng về hành vi và hiệu suất của ngân hàng. Theo Berger, Demirguc-Kunt, Levine, và Haubrich (2003), trong suốt những năm 1990, mô hình thực nghiệm SCP nhìn chung là tĩnh khi so sánh giữa các phần, hoặc ít nhất là có tính chất trong ngắn hạn. Tuy nhiên, các mô hình có kể từ khi phát triển đã vượt ra ngoài phương pháp đơn giản này để bao gồm các phân tích động của cạnh tranh ngân hàng trong đó xem xét các tác động của hành vi ngân hàng theo thời gian. Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A Trang 8 Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015 Theo Berger, Demirguc-Kunt, Levine, và Haubrich (2003), phương pháp phổ biến nhất để đo lường cạnh tranh là chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI).
Maudos và Guevara (2004) định nghĩa HHI, còn được gọi là chỉ số tập trung, như là tổng bình phương của thị phần của năm mươi doanh nghiệp lớn nhất, hoặc tổng của tất cả chúng nếu chúng ít hơn năm mươi trong ngành công nghiệp. Nó đo lường quy mô của các doanh nghiệp liên quan đến ngành công nghiệp và là một chỉ số về năng lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Thị phần cá nhân được thể hiện dưới dạng phân số. Các nghiên cứu gần đây đã đi xa hơn trong việc tổng quát hơn giả thuyết SCP bằng cách kiểm tra một số mô hình khác nhau của năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh đó, nhiều tác giả và các nhà nghiên cứu đã xác định vấn đề bằng phương pháp HHI để đo lường năng lực cạnh tranh. Kết quả là thước đo thay thế kể từ đó đã xuất hiện, bao gồm cả các thước đo cấu trúc thị trường có tính đến khả năng rằng các quy mô và các loại ngân hàng thương mại khác nhau có thể ảnh hưởng đến điều kiện cạnh tranh một cách khác nhau (Berger, Demirguc-Kunt, Levine, và Haubrich, 2003). Berger và cộng sự tiếp tục chỉ ra rằng các thước đo mới của ứng xử và hiệu suất trong khuôn khổ SCP hiện nay bao gồm các chỉ số về hiệu quả, chất lượng dịch vụ, và rủi ro của các ngân hàng, cũng như tác động của hành vi ngân hàng cho nền kinh tế nói chung. Berger, Demirguc-Kunt, Levine, và Haubrich (2003) cho rằng, vấn đề mà HHI là thước đo năng lực cạnh tranh của ngân hàng khả năng áp dụng bị hạn chế để phát hiện độc quyền, mà phụ thuộc trực tiếp vào định nghĩa thích hợp của một thị trường cụ thể.
Lựa chọn một phạm vi địa lý để xác định mức độ và quy mô của thị trường là sự trình bày những vấn đề lớn trong việc mô tả một thị trường cụ thể. Ví dụ một ngân hàng có thể có một thị phần đặc biệt trong một giới hạn địa lý cụ thể, nhưng nó có thể chênh lệch trong nhiều lĩnh vực khác của quốc gia nơi nó thực thi quyền lực độc quyền và do đó không cạnh tranh với nhau. Một chỉ số thay thế của mức độ cạnh tranh là chỉ số Lerner (LI) mà theo Maudos và Guevara (2004), được sử dụng rộng rãi trong các trường hợp cụ thể của các ngân hàng. Chỉ số Lerner được đặt theo tên của nhà kinh tế Abba Lerner, mô tả sức mạnh thị trường của một công ty.
Chỉ số Lerner được định nghĩa là sự khác biệt Dương Thị Kim Hoàng – Lớp MFB5A Trang 9 Các yếu tố ảnh hưởng đến NIM của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2015 giữa giá và chi phí cận biên chia cho giá. Chỉ số Lerner có thể được biểu diễn đại số như sau: LI = (P – MC) / P P là giá thị trường sản phẩm được thiết lập bởi công ty và bằng tổng doanh thu của ngân hàng (bao gồm cả thu nhập lãi và thu nhập hoạt động khác). MC là chi phí cận biên của công ty phản ánh chi phí sản xuất đơn vị đầu ra tăng thêm của công ty. Chỉ số này dao động từ 0 đến 1, với con số cao hơn ngụ ý sức mạnh thị trường lớn hơn.
Đối với một công ty cạnh tranh hoàn hảo, giá cả phải bằng chi phí cận biên tức là LI = 0. Các công ty có LI = 0 như vậy không có sức mạnh thị trường. Do đó, tỷ lệ này phản ánh khả năng định giá cao hơn chi phí cận biên. Maudos và Guevara (2004) thừa nhận rằng mặc dù chỉ số Lerner xuất hiện như là một thước đo tốt hơn so với chỉ số HHI, vấn đề chính với nó xuất phát từ thực tế là các dữ liệu cần thiết về giá cả và thông tin chi phí là hầu như không thể có được.
Giả thuyết Sức mạnh thị trường tương đối (RMP) Giả thuyết sức mạnh thị trường tương đối (RMP) cho rằng chỉ những ngân hàng có thị phần lớn có thể sử dụng quyền lực thị trường để định giá, do đó thu lợi nhuận biên cao hơn. Theo Jeon và Miller (2005) giả thuyết này cho rằng chỉ có các ngân hàng lớn với một số đặc điểm nhận diện thương hiệu mới có thể ảnh hưởng đến giá và tăng lợi nhuận bằng cách thiết lập thu nhập lãi cận biên cao hơn.