CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng là một trung gian tài chính, dẫn truyền vốn từ nơi thặng dư vốn sang nơi thiếu hụt vốn thông qua hoạt động đặc trưng là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền đó để cho vay và cung ứng dịch vụ thanh toán. Căn cứ vào tính chất kinh doanh và mục đích hoạt động có thể phân chia ngân hàng thành các loại: ngân hàng phát triển, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và ngân hàng thương mại.
Ba loại ngân hàng đầu hoạt động vì những mục đích đặc biệt, tùy thuộc vào mục tiêu cũng như nhu cầu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ của quốc gia như: đầu tư phát triển vào các lĩnh vực tập trung hay hỗ trợ các đối tượng chính sách xã hội. Trong khi đó, ngân hàng thương mại hoạt động thuần túy mang tính kinh doanh. Cuốn “Giáo trình Tiền tệ - Ngân hàng” trang 76 của Học viện Ngân hàng định nghĩa: ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng “hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua việc kinh doanh các khoản vốn ngắn hạn là chủ yếu”. Tại khoản 3, điều 4, Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010 giải thích: ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng “được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận.” Theo đó, hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Các hoạt động kinh doanh khác có thể kể đến là đầu tư chứng khoán, góp vốn mua cổ phần, kinh doanh ngoại hối, ủy thác, đại lý, tư vấn tài chính… Như vậy từ những định nghĩa trên có thể hiểu ngân hàng thương mại là một trung gian tài chính thực hiện các hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán vì mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động đem lại cho ngân hàng thương mại nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn để tiến hành kinh doanh. Ngân hàng thương mại thực hiện huy động vốn dưới nhiều hình thức.
Thứ nhất là huy động bằng tiền gửi từ các cá nhân tổ chức, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất kì lúc nào, thường được gửi nhằm mục đích bảo vệ an toàn tài sản và thanh toán chi trả thường xuyên. Tiền gửi có kỳ hạn là khoản tiền mà khách hàng được rút ra sau một thời gian gửi nhất định, với kì hạn ngắn là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm hoặc kì hạn dài như 3 năm, 5 năm,… Đối với loại tiền gửi này, mục đích của người gửi là hưởng lãi. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền để dành của dân cư được gửi vào ngân hàng thương mại nhằm đảm bảo tài sản và hưởng lãi.
Thứ hai, ngân hàng thương mại có thể vay vốn từ ngân hàng trung ương, từ các tổ chức tín dụng khác hoặc từ công chúng. Trong trường hợp ngân hàng thương mại cần bổ sung nhu cầu vốn khả dụng, ngân hàng trung ương cấp tín dụng cho ngân hàng thương mại dưới hai hình thức: tái cấp vốn hoặc cho vay thế chấp hay ứng trước. Tái cấp vốn được thực hiện bằng nhiều hình thức: chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá ngắn hạn; cho vay đảm bảo bằng cầm cố các giấy tờ có giá như thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Cũng nhằm mục đích đảm bảo nhu cầu vốn khả dụng trong thời gian ngắn, ngân hàng thương mại có thể đi vay từ các ngân hàng thương mại khác trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng.
Ngoài ra, ngân hàng sẽ phát hành các chứng từ có giá ví dụ như kỳ phiếu để thu hút tiền từ công chúng. Ngoài những nguồn vốn vay trên, ngân hàng có các nguồn vay khác như vay từ công ty mẹ của ngân hàng, phát hành hợp đồng mua lại hay vay từ nước ngoài. Hoạt động tín dụng Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng, hoạt động tín dụng là hoạt động đem lại nguồn sinh lợi lớn nhất và quan trọng cho ngân hàng. Nguồn vốn huy động 5 được ngân hàng chủ yếu đem cho vay các chủ thể trong nền kinh tế khi họ nhu cầu về sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và thỏa mãn các điều kiện vay vốn của ngân hàng.
Các hình thức tín dụng đang được áp dụng đó là: - Chiết khấu: là hình thức tín dụng ngắn hạn trong đó ngân hàng mua các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán với số tiền bằng giá trị đến hạn của giấy tờ có giá trừ đi lãi chiết khấu và hoa hồng phí. - Cho vay ứng trước: là việc ngân hàng mở cho khách hàng một tài khoản, chuyển số tiền vay vào tài khoản đó, và khách hàng được phép rút tiền tới một hạn mức cho vay trong một thời hạn nhất định. - Thấu chi: là hình thức ngân hàng cho phép khách hàng chi tiêu vượt quá số tiền có trên tài khoản vãng lai nhưng tới một hạn mức trong một thời hạn nhất định. - Bao thanh toán: là dịch vụ do công ty con của ngân hàng thực hiện đứng ra mua nợ trên cơ sở hóa đơn, chứng từ của người bán hàng để thanh toán hộ cho họ, khi đến hạn người mua phải thanh toán toàn bộ số tiền cho ngân hàng.
- Cho vay thuê mua: là loại hình cho vay trung dài hạn thông qua việc ngân hàng mua tài sản như máy móc, thiết bị, động sản hay bất động sản để cho thuê. Trong thời gian thuê, người đi thuê có trách nhiệm thanh toán tiền thuê và khi hết hạn thuê sẽ được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc thuê tiếp tài sản tùy thuộc vào điều kiện hai bên đã thỏa thuận trong hợp đồng. - Cho vay theo dự án: là hình thức tín dụng trung và dài hạn được tiến hành dựa trên dự án đầu tư của khách hàng và một văn bản hoàn chỉnh về việc vay và trả nợ đã được nghiên cứu, soạn thảo, ký kết giữa các chủ dự án và ngân hàng. - Cho vay hợp vốn: là hình thức mà một nhóm ngân hàng sẽ cùng cho vay đối với một dự án vay vốn, nhưng trong đó sẽ có một ngân hàng đứng ra làm đầu mối để sắp xếp khoản vay.
- Tín dụng tiêu dùng: là việc tài trợ cho các nhu cầu tiêu dùng cá nhân như mua sắm, sửa chữa, nâng cấp nhà cửa, xe hơi, các đồ dùng sinh hoạt đắt tiền. 6 - Bảo lãnh: là hình thức tín dụng bằng chữ ký, nếu có thư bảo lãnh của ngân hàng, khi người được bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ của mình thì ngân hàng sẽ đứng ra đảm bảo thực hiện. Các hoạt động kinh doanh khác Bên cạnh tín dụng, các ngân hàng cũng đầu tư vào chứng khoán như trái phiếu chính phủ hay trái phiếu công ty, một mặt để thu lợi tức đầu tư, đem lại thu nhập cho ngân hàng, mặt khác do tính thanh khoản của các loại chứng khoán này rất lớn nên nâng cao khả năng thanh toán cho ngân hàng. Ngân hàng cũng kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và quốc tế với hình thức giao dịch giao ngay, giao dịch kì hạn, giao dịch hoán đổi và giao dịch quyền chọn.
Cung cấp các dịch vụ ngân hàng cũng là một trong những hoạt động để ngân hàng thương mại tìm kiếm lợi nhuận. Khi nền kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu của các chủ thể trong nền kinh tế ngày càng phong phú, các dịch vụ của ngân hàng cũng trở nên đa dạng hơn để đáp ứng những nhu cầu ấy. Dịch vụ thanh toán bao gồm thanh toán trong nước như ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, séc, thẻ…; thanh toán quốc tế như chuyển tiền, nhờ thu, L/C… Dịch vụ ủy thác cho cá nhân và doanh nghiệp có ủy thác cho vay, cho thuê tài chính, góp vốn mua cổ phần, quản lý tài sản… Dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ cho khách hàng được thực hiện bởi những nhân viên có chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, đưa ra những lời khuyên, thông tin hữu ích và hiệu quả nhất cho các khách hàng cần giúp đỡ. Các ngân hàng hiện nay cũng đang phát triển thêm dịch vụ bảo hiểm, đại lý bảo hiểm với nhiều loại hình như: bảo hiểm tích lũy, bảo hiểm con người, bảo hiểm ô tô… Ngoài ra ngân hàng thương mại còn cung cấp các dịch vụ cầm đồ, cho thuê tủ két, bảo quản hiện vật và giấy tờ có giá… và nhiều dịch vụ khác nữa.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Cuốn “Từ điển Toán kinh tế - Thống kê - Kinh tế lượng Anh - Việt” trang 255 của Nguyễn Khắc Minh đã định nghĩa hiệu quả trong kinh tế là "mối tương quan giữa 7 các yếu tố đầu vào khan hiếm với đầu ra hàng hóa và dịch vụ" và "khái niệm hiệu quả được dùng để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào”. Cũng theo Nguyễn Việt Hùng (2008) thì “hiệu quả là phạm trù phản ánh sự thay đổi công nghệ, sự kết hợp và phân bổ hợp lý các nguồn lực, trình độ lành nghề của lao động, trình độ quản lý. nó phản ánh quan hệ so sánh được giữa kết quả kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”.
Như vậy khi tìm hiểu hiệu quả kinh doanh không phải chỉ đơn thuần là xem kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh hay thu nhập của doanh nghiệp là cao hay thấp mà cần xem xét nó trong mối quan hệ tương đối với các chi phí đã bỏ ra, với các đầu vào được sử dụng trong cùng thời kì.