Chương I: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại. 6 Chương II: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội. Chương III: Giải pháp nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC NHTM 1.
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM 1. Khái niệm về NHTM Ngân hàng thương mại (NHTM) đã được hình thành và tồn tại như một tất yếu khách quan đáp ứng những nhu cầu của nền kinh tế hàng hóa. Ban đầu, xuất phát từ các nhu cầu mua bán, trao đổi hàng hóa giữa các vùng miền sau đó mở rộng ra là nhu cầu hàng hóa giữa các quốc gia, tuy nhiên do sự khác biệt đồng tiền của từng vùng làm cho nhu cầu đổi tiền, thanh toán hộ cũng như gửi tiền của các thương gia xuất hiện. Chính những hoạt động gửi tiền và thanh toán tiền này đã làm ra đời NHTM cùng với những nghiệp vụ cơ bản đó, trải qua những biến động của nền kinh tế hoạt động của NHTM đã mở rộng cả về quy mô, chất lượng, số lượng cũng như đa dạng các loại hình dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Theo Luật Các Tổ chức tín dụng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010) quy định: “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Trải qua thời gian dài với những thăng trầm của nền kinh tế, rất nhiều khái niệm về Ngân hàng đã ra đời tuy nhiên vẫn chưa có nhà kinh tế học nào đưa ra được định nghĩa chính xác do sự khác biệt về pháp luật, điều kiện kinh tế của mỗi đất nước là khác nhau. Ở Việt Nam, theo pháp lệnh ngân hàng 2/5/1990 của Hội đồng Nhà nước Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”.
Ở Mỹ: Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. 8 Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: "Ngân hàng thương mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”. Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ nhằm thoải mãn các nhu cầu đa dạng về sản phẩm dịch vụ trong xã hội. Để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, NHTM luôn không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng các sản phẩm dịch vụ có sẵn cũng như nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới phục vụ nhu cầu đa dạng của người dân.
Tuy nhiên, một NHTM luôn luôn tiến hành 3 nghiệp vụ cơ bản: Hoạt động huy động vốn hay còn gọi là Nghiệp vụ nợ: đây đươc coi như hoạt động đầu vào của ngân hàng, ngân hàng thông qua 2 hình thức huy động chính là tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm để huy động nguồn tiền nhà rỗi tạm thời trong nền kinh tế. Nghiệp vụ có hay còn gọi là hoạt động sử dụng vốn, nhằm sử dụng dụng nguồn tiền từ hoạt động huy động và vốn tự có để tạo ra nguồn lợi nhuận cho ngân hàng. Nghiệp vụ có được thế hiện ở các hoạt động: Hoạt động cho vay; Hoạt động ngân quỹ; Hoạt động thuê mua; Hoạt động đầu tư trực tiếp. Đây là nghiệp vụ chứa nhiều rủi ro nhất nên để tránh rủi ro tín dụng việc quản lý phải được tiến hành một cách rất chặt chẽ, đặc biệt với những món tiền lớn, cho vay dài hạn đòi hỏi ngân hàng phải phân chia các hình thức tín dụng khác nhau nhằm mục đích dễ quản lý.
Nghiệp vụ trung gian là các nghiệp vụ cung cấp dịch vụ khác cho khách hàng ngoài hoạt động sử dụng và huy động vốn, nhằm thu phí và khuyến khích các khác hàng có quan hệ với ngân hàng, nghiệp vụ trung gian hiện đang phát triển mạnh tạo ra nguồn thu rất lớn cho các ngân hàng thương mại. Các nghiệp vụ trung gian bao gồm: Dịch vụ thanh toán và cung cấp phương tiện thanh toán; Dịch vụ môi giới; Dịch vụ chuyển tiền,.Tất cả các nghiệp vụ đều có quan hệ chặt chẽ hỗ trợ nhau thỏa mãn nhu cầu của khách hàng cũng như đem lại lợi nhuận cho ngân hàng. Chức năng của NHTM 1. Chức năng trung gian tín dụng Ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa các cá nhân có nguồn tiền rảnh rỗi và cá nhân có nhu cầu về vốn, nghĩa là ngân hàng thương mại vừa là người đi vay, vừa là người cho vay và hưởng lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất nhận gửi tiền và cho vay tiền.
Chính vì vậy đây được xem như là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, trong đó hoạt động cho vay được xem như là xương sống, mang lại rất nhiều lợi nhuận cho ngân hàng. Chức năng trung gian thanh toán Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho khách hàng, thực hiện các nghiệp vụ chuyển khoản, thanh toán tiền hàng hóa, thanh toán quốc tế,. theo yêu cầu của khách hàng, trích tiền từ chính tài khoản tiền gửi của họ. Chức năng này đã tạo điều kiện cho việc thanh toán giữa các tổ chức cá nhân được thuận tiện giao dịch nhanh chóng và hiệu quả, giảm thiểu chi phí lưu thông tiền mặt cũng như tránh các rủi ro trong việc vận chuyển tiền.
Việc thực hiện trung gian thanh toán giúp ngân hàng tăng độ uy tín để tạo điều kiện thu hút thêm khách hàng mới cũng như thúc đẩy tốc độ thanh toán, lưu thông vốn và góp phần phát triển kinh tế. Chức năng tạo tiền Đây được xem là chức năng chủ yếu của NHTM, với vai trò như thủ quỹ của khách hàng, NHTM sẽ nhận tiền gửi từ khách hàng đồng thời đáp ứng những nhu cầu chuyển tiền hay rút tiền từ phía khách hàng. Với mục tiêu tạo ra lợi nhuận từ hoạt động huy động tiền gửi và hoạt động cho vay tín dụng, ngân hàng thương mại đã làm tăng lượng tiền NHNN cung ứng ban đầu, vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Nhờ đó, các NHNN sẽ có những chính sách tiền tệ quốc gia hợp lý, ổn định giá trị đồng tiền.
KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA NHTM 1. Bản chất của khả năng sinh lời Theo Peter S.Rose (2002) thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức 10 độ rủi ro cho phép. Trong đó khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần và thu hút vốn đầu tư. Theo Ehow (2012) khả năng sinh lợi là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính.
Việc đánh giá khả năng sinh lợi phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khái niệm khả năng sinh lợi được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện. Khả năng sinh lợi có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản. Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ.
Ở cấp độ ngân hàng, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà ngân hàng nắm giữ. Đó là khả năng ngân hàng có thể tạo ra lợi nhuận từ tất cả các hoạt động kinh doanh, có tính đến mức độ rủi ro. “Lợi nhuận” và “khả năng sinh lời” thường được hiểu là hai khái niệm giống nhau, được nhắc tới khi cần đo lường mức độ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên trong thực tế hai khái niệm này không hoàn toàn giống nhau khi “lợi nhuận” là một số tuyệt đối, nó không phản ánh sự thay đổi trong hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, còn “khả năng sinh lời” là một thuật ngữ tương đối được thể hiện dưới dạng tỷ lệ hoặc phần trăm, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố nội sinh và ngoại sinh có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận.
Nói tóm lại, lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu, là lý do cho sự tồn tại của tất cả các tổ chức tài chính trong đó có NHTM. Đặc biệt, khi phân tích khả năng sinh lời của ngân hàng, chỉ số càng cao càng thuận lợi để ngân hàng gia tăng nguồn vốn, đầu tư phát triển công nghệ tạo ra nhiều lợi nhuận. Hơn nữa nâng cao khả năng sinh lời cũng giúp ngân hàng thu hút nhiều khách hàng mới, mở rộng thị phần của mình. Các chỉ số đo khả năng sinh lời Trong các tài liệu, khả năng sinh lời thường được đo lường thông qua các chỉ số tài chính: Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA); lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM).
11 Tỷ số lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) Tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của ngân hàng. Lợi nhuận sau thuế ROA = Bình quân tổng tài sản Đây là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng. Đây là chỉ số được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng.