chương 1, tác giả đã giới thiệu đề tài nghiên cứu là “Yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”. Tiếp đến tác giả giới thiệu về mục tiêu, các câu hỏi nghiên cứu, tổng quan học thuật, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu kết cấu đề tài, đóng góp của đề tài. 7 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ SUẤT SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về tỷ suất sinh lời của ngân hàng 2.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng là một tổ chức tài chính và trung gian tài chính nhận tiền gửi và sử dụng những tiền gửi đó vào các hoạt động cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các thị trường vốn. Ngân hàng là kết nối giữa khách hàng có thâm hụt vốn và khách hàng có thặng dư vốn.
Rose - Giáo sư kinh tế học và tài chính trường đại học Yale thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một doanh nghiệp và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép.2 Khái niệm về tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại Có nhiều đinh nghĩa và khái niệm về tỷ suất sinh lời, tỷ suất sinh lời là khái niệm được sử dụng cho nhiều tình hình khác nhau trong kinh tế học. Theo Olalekan và Adeyinka (2013), khả năng sinh lời là khả năng tạo ra lợi nhuận từ các hoạt động của ngân hàng, thể hiện qua hoạt động ngân hàng. Đối với Harward và Upton (1991), khả năng sinh lời còn là khả năng thu được lợi nhuận từ việc đầu tư của ngân hàng. Theo Giáo trình tài chính doanh nghiệp – Trần Ngọc Thơ, 2014, tỷ suất sinh lời là chỉ số đo lường thu nhập của công ty với các nhân tố khác tạo ra lợi nhuận như doanh thu, tổng tài sản, vốn cổ phẩn.
Từ những nội dung trên tác giả đúc kết tỷ suất sinh lợi của ngân hàng là: khoản lãi thu được so với vốn được sử dụng để sinh ra khoản lãi đó hay chi phí đã tiêu hao để sinh ra 8 khoản lãi đó. Tỷ suất sinh lợi của ngân hàng được biểu hiện bằng: tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.2 Các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất sinh lời của ngân hàng 2.1 Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA: Return On Asset) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) chỉ ra bao nhiêu lợi nhuận các ngân hàng thương mại có thể tạo ra bằng cách sử dụng một đơn vị tài sản, mặc dù nó có thể bị bóp méo bởi các hoạt động ngoại bảng. Tuy nhiên, đối với các NHTM Việt Nam, các hoạt động này là không đáng kể. ROA có thể cho thấy khả năng của các ngân hàng trong việc quản lý và sử dụng nguồn lực tài chính để tạo ra lợi nhuận.
Công thức tính ROA như sau: Lợi nhuận ròng 𝑅𝑂𝐴 = Tổng tài sản có bình quân Chỉ số ROA càng lớn càng cho thấy hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng tài sản của NHTM.2 Tỷ lệ lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE: Return On Equity) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) cho thấy một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này cho thấy hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng, khả năng sinh lời trên một đồng vốn chủ sở hữu. Công thức tính ROA như sau: Lợi nhuận ròng ROE = Vốn chủ sở hữu bình quân Chỉ số ROE càng lớn càng cho thấy hiệu quả trong việc quản lý và sử dụng vốn chủ sở hữu của NHTM.3 Chỉ số tỷ lệ lãi cận biên (NIM: Net Interest Margin) Chỉ số tỷ lệ lãi cận biên (NIM) được xác định bằng tổng doanh thu từ lãi trừ tổng chi phí trả lãi (thu nhập lãi thuần) trên tổng tài sản có sinh lời bình quân. Trong đó, tổng tài sản có sinh lời bình quân được xác định theo các khoản mục tiền gửi tại NHNN, tại các tổ chức tín dụng, cho vay các tổ chức tín dụng khác, cho vay khách hàng, chứng khoán đầu tư.
Thông qua tỷ lệ này, ngân hàng có thể kiểm soát tài sản sinh lời và đánh giá nguồn vốn nào có chi phí thấp nhất. Công thức tính NIM như sau: Thu nhập từ lãi − Tổng chi phí trả lãi NIM = Tổng tài sản có sinh lời bình quân 2.3 Tổng quan các yếu tố tác động đến tỷ suất sinh lời của NHTM 2.1 Các yếu tố nội tại của các NHTM 2.1 Quy mô của NHTM (Size) Theo thông thường, những ngân hàng lớn thường có tỷ suất về lợi nhuận cao hơn sao với các ngân hàng nhỏ. Những ngân hàng lớn có lợi thế về thương hiệu, tài sản, quy mô vốn … sẽ tạo ra lợi nhuận nhiều hơn so với các ngân hàng nhỏ. kết quả nghiên cứu của Sufian (2011) tại Hàn Quốc, nghiên cứu của Spathis và cộng sự (2002) tại các ngân hàng Hy Lạp từ năm 1990 – 1999, nghiên cứu của Kosmidou (2008) tại các ngân hàng Hy Lạp từ năm 1990-2002 đã tìm ra mối tương quan dương giữa quy mô ngân hàng và tỷ suất sinh lời của các ngân hàng Tuy nhiên, với bộ máy lớn, cồng kềnh, khó thay đổi khi có những diễn biến bất ngờ của nền kinh tế có thể khiến cho các ngân hàng lớn không kịp điều chỉnh dẫn đến lợi nhuận xuống thấp.
Các ngân hàng nhỏ với bộ máy nhỏ gọn, linh hoạt hơn có thể tạo được lợi nhuận nhiều hơn trong những giai đoạn nền kinh tế có sự chuyển biến lớn. Kết quả nghiên cứu của Sufian và Chong (2008) tại Philippines, nghiên cứu của Pasiouras 10 và Kosmidous (2007) tại ngân hàng của 15 nước Châu Âu trong khoảng thời gian từ 1995-2001, nghiên cứu của Staikouras và cộng sự (2008) tại các ngân hàng Châu Âu từ năm 1998-2005 đã tìm ra mối tương quan âm giữa quy mô ngân hàng và tỷ suất sinh lời của các ngân hàng.2 Quy mô vốn (Capital) Nhìn chung mọi người đều tin rằng một ngân hàng có vốn hóa tốt sẽ tạo ra lợi nhuận nhiều hơn, sẽ có tỷ suất sinh lời cao hơn. Trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của các ngân hàng ở 12 nước được chọn ra từ các khu vực Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc, Bourke (1989) đã tìm ra mối tương quan thuận giữa quy mô vốn và tỷ suất sinh lời, cụ thể là ngân hàng có tỷ số vốn càng cao thì tỷ suất sinh lời càng cao. Tương tự, nghiên cứu của Berger (1995) dựa trên dữ liệu của các ngân hàng Mỹ trong khoảng thời gian nửa sau thập niên 1980, và nghiên cứu của Anghazo (1997) dựa trên dữ liệu của các ngân hàng Mỹ từ năm 1989 đến 2003 đều cho rằng các ngân hàng có vốn hóa tốt đều có tỷ suất sinh lời cao hơn.
Demirguc và cộng sự (1999) đã có một nghiên cứu rộng hơn về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng ở 80 quốc gia bao gồm cả các nước phát triển và đang phát triển trong khoảng thời gian từ 1988 – 1995. Họ đã đi đến kết luận rằng các ngân hàng nước ngoài có tỷ suất sinh lời cao hơn các ngân hàng nội địa ở các nước đang phát triển, trong khi điều này là ngược lại ở các nước phát triển. Tuy nhiên, nhìn chung, nghiên cứu của họ ủng hộ mối tương quan thuận giữa tỷ số vốn và tỷ suất sinh lời. Nghiên cứu của Athanasoglou (2005) dựa trên dữ liệu của các ngân hàng Hy Lạp trong khoảng thời gian từ 1985 – 2001 cũng chỉ ra vốn là một nhân tố quan trọng giải thích tỷ suất sinh lời của ngân hàng, quy mô vốn ngân hàng càng lớn thì tỷ suất sinh lời càng cao.
Mối tương quan thuận giữa quy mô vốn và tỷ suất sinh lời của ngân hàng cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của Naceur và Goaied (2008) khi xem xét tác động của các biến 11 về ngân hàng, cấu trúc tài chính và các điều kiện kinh tế vĩ mô lên lợi nhuận biên và tỷ suất sinh lời của các ngân hàng Tunisia trong khoảng thời gian từ 1980 – 2000. Nghiên cứu tại khu vực Trung đông và Bắc Phi cũng cho kết quả tương tự. Naceur và Omran (2008) đã phân tích ảnh hưởng của chính sách ngân hàng, sự cạnh tranh, sự cải cách tài chính đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại ở các nước thuộc khu vực Trung đông và Bắc Phi trong suốt khoảng thời gian từ 1989 – 2005 và đi đến kết luận về mối tương quan thuận giữa quy mô vốn và tỷ suất sinh lời. Nghiên cứu của Flamini (2009) về các yếu tố quyết định tỷ suất sinh lời của các ngân hàng ở vùng Châu Phi cận Saharan (Sub Saharan Africa – SSA) dựa trên dữ liệu của 389 ngân hàng thuộc 41 nước SSA cũng đã đi đến kết luận về mối tương quan dương giữa quy mô vốn và tỷ suất sinh lời.
Nghiên cứu này đã đưa ra lời đề nghị rằng chính phủ các nước thuộc khu vực SSA cần có quy định vốn điều lệ cao hơn cho các ngân hàng nhằm đảm bảo tính an toàn và bền vững cho hệ thống tài chính. Trước đó, Aburime (2008) nghiên cứu về các yếu tố quyết định đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng Nigeria từ dữ liệu của 33 ngân hàng trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2004 cũng cho kết quả tương tự. Tại Châu Á, các nghiên cứu về tỷ suất sinh lời của các ngân hàng đã được tiến hành và cho kết quả tương tự. Nghiên cứu của Sufian và Chong (2008) về các yếu tố quyết định tỷ suất sinh lời của các ngân hàng ở một nền kinh tế đang phát triển: bằng chứng thực nghiệm từ Philippines trong khoảng thời gian từ 1990 – 2005, đã tìm ra mối tương quan dương giữa quy mô vốn và tỷ suất sinh lời của ngân hàng.
Gần đây nhất là nghiên cứu của Sufian (2011) dựa trên dữ liệu của 29 ngân hàng Hàn Quốc trong khoảng thời gian từ 1992-2003 cho thấy các ngân hàng có quy mô vốn lớn có tỷ suất sinh lời cao. Nghiên cứu này cho rằng các ngân hàng có vốn hóa tốt đối mặt với nguy cơ vỡ nợ thấp hơn.