CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Trong những năm qua, hoạt động HĐV của NHTM, hoạt động của TTCK, các chủ thể tham gia trên TTCK và QLNN về các hoạt động này được nhiều nhà nghiên cứu ở VN quan tâm. Đã có một số công trình nghiên cứu dưới dạng luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ (ngành), các sách chuyên khảo, tạp chí trong và ngoài nước đề cập đến dưới những góc độ và phạm vi khác nhau về các nội dung liên quan đến hoạt động HĐV, hoạt động của TTCK và QLNN về các chủ thể tham trên TTCK trên. Các công trình gần nhất liên quan đến đề tài “QLNN đối với hoạt động HĐV qua PHCK của các NHTMCP VN, được trình bày sau đây.
Các nghiên cứu về huy động vốn qua phát hành chứng khoán của doanh nghiệp và ngân hàng thương mại - Luận án tiến sĩ với đề tài “HĐV của các doanh nghiệp trên TTCK ở VN” (2014) của tác giả Nguyễn Hữu Tú. Luận án đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về HĐV, phương thức HĐV của các doanh nghiệp và làm rõ vai trò của các chủ thể trong quá trình HĐV trên TTCK. Luận án phân tích thực trạng HĐV của các doanh nghiệp qua TTCK. Qua việc phân tích một số kết quả HĐV, một số doanh nghiệp tiêu biểu HĐV trên TTCK từ năm 2000 đến năm 2012.
Luận án đã chỉ ra nguyên nhân của những khó khăn cản trở sự phát triển của hoạt động này, từ đó đưa ra những giải pháp tháo gỡ những khó khăn của các doanh nghiệp trong quá trình HĐV trên TTCK. Luận án tập trung nghiên cứu hoạt động HĐV của các doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu và trái phiếu chuyển đổi từ năm 2000 đến năm 2012 và đã thống kê được các ngành kinh tế có doanh nghiệp niêm yết tại các sàn giao dịch CK trong đó có 8 ngân hàng HĐV qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu. - Đề tài nghiên cứu khoa học “Tham gia của hệ thống NHTM vào TTCK VN” (2010), ThS. Nguyễn Thị Anh Đào Trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia Hà Nội.
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng tham gia của các NHTM vào TTCK luan an 8 VN như tham gia vào hoạt động kinh doanh CK, phát hành và niêm yết CK, đầu tư trên TTCK và tham gia vào các hoạt động khác trên TTCK. Đề tài đã phân tích những ưu thế và bất cập của hệ thống NHTM trên TTCK VN nhằm đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia của các NHTM vào TTCK VN như: Tiếp tục cải cách kinh tế, tạo điều kiện phát triển và tham gia của NHTM vào TTCK trên mọi lĩnh vực; Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho sự tham gia của NHTM vào TTCK, đặc biệt là cho hoạt động đầu tư, tham gia góp vốn vào các công ty CK, tham gia phát hành, niêm yết CK, thanh toán giao dịch CK, cho vay đầu tư CK; Tăng cường giám sát và thực thi pháp luật trong quản lý, điều hành TTCK; Tăng quy mô vốn cho các ngân hàng, hoàn thiện và nâng cấp cơ sở hạ tầng công nghệ - kỹ thuật và đội ngũ nhân lực ngân hàng, tạo điều kiện cho các NHTMCP phát hành cổ phiếu, trái phiếu và niêm yết trên TTCK. - Jo-Ann Suchard, Manohar Singh (2006) “The determinants of the hybrid security issuance decision for Australian firms”- (Yếu tố quyết định PHCK đối với các công ty Úc), Pacific-Basin Finance Journal 14. Các tác giả đã chỉ ra rằng thị trường vốn của Úc có những đặc điểm đặc biệt khác với các thị trường khác như thị trường Hoa Kỳ và Châu Âu.
Có một thị trường nợ được nêu ra ở bài viết này, đó là thị trường mà hầu hết các công ty sử dụng nợ ngân hàng, nợ chuyển đổi vì các công ty không thể tự mình HĐV. Các tác giả đã trình bày việc xem xét các yếu tố quyết định sự lựa chọn an toàn cho tổ chức phát hành tại thị trường Úc. Các kết quả hỗ trợ mô hình, đồng thời chịu ảnh hưởng của chi phí khủng hoảng tài chính và thuế. Ngoài ra, kết quả cung cấp hỗ trợ cho các mô hình tài chính tuần tự mà công ty có lợi nhuận cao sử dụng để chuyển đổi nợ và các doanh nghiệp có lợi nhuận thấp sử dụng để bảo đảm và giải quyết vấn đề tài chính tiếp theo.
- Gishan Dissanaike, Jonathan Faasse, Ranadeva Jayasekera (2014), “What do equity issuances signal? A study of equity issuances in the UK before and during the financial crisis” - (Tín hiệu phát hành cổ phiếu là gì? Một nghiên cứu về việc phát hành cổ phiếu ở Anh trước và trong cuộc khủng hoảng tài chính), Journal of International Money and Finance. Các tác giả đã chỉ ra sự gia tăng về vốn theo các phương thức phát hành sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của các công ty phát hành và các luan an 9 phương thức phát hành khác nhau có thể gây ra các phản ứng của thị trường khác nhau. Các tác giả đã sử dụng 700 mẫu phiếu điều tra của 377 công ty, tiến hành trên TTCK London để nghiên cứu về tăng vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu trong một khoảng thời gian 10 năm (từ năm 2003 đến năm 2012) bao gồm các giai đoạn trước và trong cuộc khủng hoảng tài chính. Qua việc phát phiếu tìm hiểu hoạt động phát hành cổ phiếu của các công ty cho thấy: các hiệu ứng thông tin bất cân xứng của công ty không phải là yếu tố quyết định lợi nhuận công bố trong giai đoạn khủng hoảng, lợi nhuận công bố trong cuộc khủng hoảng đã bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế vĩ mô.
Nếu công ty có khả năng di chuyển nhanh hơn để tăng lượng vốn (trong một thị trường bị hạn chế) có thể tạo ra môi trường HĐV khó khăn hơn đối với các công ty khác như là phải chịu các chi phí tăng thêm sau này bởi việc chiết khấu cao hơn. Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán và các chủ thể tham gia thị trường chứng khoán - Trong luận án tiến sĩ với đề tài “Giám sát giao dịch CK trên TTCK VN” (2010), tác giả Lê Trung Thành. Luận án đã hệ thống hóa những lý luận về giao dịch CK trên TTCK dựa trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên Thế giới. Luận án sử dụng phương pháp thống kê và mô hình toán học để phân tích thực trạng, làm rõ bối cảnh giám sát giao dịch CK, kiểm định tính hiệu quả của TTCK VN nhằm đánh giá kết quả đạt được, tìm ra những hạn chế.
Đề xuất các giải pháp tăng cường giám sát giao dịch CK trên TTCK VN. Luận án phân tích thực trạng trong khoảng thời gian TTCK mới hình thành và phát triển, cụ thể là từ năm 2000 đến năm 2008. Đồng thời, luận án mới chỉ đề cập đến việc giám sát các vi phạm tuân thủ quy định của pháp luật về quy trình giao dịch, CBTT, chưa trình bày được quá trình giám sát khi PHCK của các công ty niêm yết trên TTCK VN. - Trong luận án tiến sĩ với đề tài “Vai trò của nhà nước trong phát triển thị trường tài chính ở VN” (2010) của tác giả Bùi Văn Thạch.
Tác giả đã tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của các nước Trung Quốc, Nhật Bản và các nước Đông Nam Á trong quản lý, phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính qua đó rút ra được 6 bài học kinh nghiệm thành công và 4 bài học kinh nghiệm chưa thành công để VN có thể vận dụng luan an 10 trong chỉ đạo, vận hành thị trường tài chính VN trong thời gian tới. Luận án đánh giá toàn diện trên cả phương diện luật pháp và phương diện QLNN, từ đó rút ra được những thành tựu đạt được và những mặt yếu kém trên thị trường tài chính ở VN từ năm 2004 đến năm 2009. Luận án trên đã tập trung phân tích ưu và khuyết điểm của mô hình tổ chức QLNN, chỉ rõ hệ thống pháp luật có liên quan điều chỉnh pháp luật về CK và TTCK đến năm 2009, tập trung phân tích hoạt động QLNN đối với hoạt động của TTCK, tập trung thông qua các nghiệp vụ QLNN của UBCKNN, trong đó có đề cập đến hoạt động PHCK của các doanh nghiệp. Trên cơ sở quan điểm, phương hướng trong phát triển đồng bộ vững chắc của thị trường tài chính ở VN đến năm 2020, luận án đã đề xuất 3 nhóm giải pháp cơ bản trong việc thiết lập và hoàn thiện môi trường thể chế đảm bảo sự vận hành của thị trường tiền tệ và TTCK trên cơ sở các quan hệ thị trường, đồng thời tăng cường công tác giám sát của nhà nước đối với thị trường tiền tệ và TTCK ở VN.
Luận án đã tập trung nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong phát triển TTCK VN, trong đó có đề cập nội dung QLNN đối với CK và PHCK của các công ty mà chưa trình bày cụ thể nội dung này đối với các NHTMCP. Đồng thời, luận án chưa trình bày rõ nội dung QLNN đối với hoạt động HĐV của các các NHTMCP trong thời gian nghiên cứu của luận án. - Trong luận án tiến sĩ với đề tài “QLNN về pháp luật đối với công ty niêm yết trên TTCK VN” (2011) của tác giả Vũ Thị Thúy Ngà. Luận án đã trình bày, nghiên cứu kinh nghiệm QLNN đối với công ty niêm yết trên TTCK ở một số nước trên Thế giới.
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu trên cơ sở hoạt động thực tiễn của thị trường và kết quả điều tra khảo sát các doanh nghiệp đang niêm yết trên TTCK tại thời điểm tháng 12/2009 đến tháng 01/2010. Thông qua việc đánh giá việc thực hiện các quy định về phát hành, niêm yết, CBTT và quản trị công ty trên TTCK VN trong thời gian qua, luận án đã đề ra các giải pháp và mô hình triển khai hoạt động này nhằm nâng cao hiệu quả và khả năng QLNN về pháp luật đối với các công ty niêm yết trên TTCK giai đoạn năm 2010 đến năm 2020. Luận án chỉ đề cập một cách tổng quát khía cạnh QLNN đối với hoạt động luan an 11 PHCK của các công ty niêm yết trên TTCK nhưng chưa đề cập đến quá trình QLNN đối với hoạt động HĐV của các NHTM. - Bài viết “Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật nhằm phát triển bền vững TTCK ở VN” (2012), Tạp chí Khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, Luật học số 28.