Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản lý kinh tế (mã số 934.10) với đề tài "Quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn qua phát hành chứng khoán của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hằng thực hiện tại Trường Đại học Thương mại, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Phương Liên và TS. Lê Hoàng Nga, bảo vệ năm 2020.

Vốn là điều kiện cốt lõi bảo đảm sự an toàn và phát triển của các ngân hàng thương mại (NHTM). Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, sự hình thành và mở rộng của thị trường chứng khoán (TTCK) tạo thêm kênh huy động vốn quan trọng cho các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP). Thông qua phát hành cổ phiếu để tăng vốn chủ sở hữu và phát hành trái phiếu để huy động vốn nợ trung và dài hạn, các NHTMCP giải quyết áp lực tăng trưởng quy mô và đáp ứng chuẩn mực an toàn. Theo Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, tính đến ngày 31/12/2018, giá trị vốn hóa riêng thị trường cổ phiếu đã đạt khoảng 75% GDP. Đặc biệt, khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu 8% theo tiêu chuẩn Basel II, áp lực tăng vốn điều lệ và vốn tự có đối với các NHTMCP trở nên cấp bách.

Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước (QLNN) đối với hoạt động này bộc lộ nhiều điểm nghẽn: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, còn độ trễ so với thực tế; mô hình tổ chức bộ máy làm giảm tính độc lập của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN); cơ chế quản lý chất lượng kết hợp công bố thông tin (CBTT) còn bất cập; hoạt động thanh tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa kịp thời; năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ của cán bộ quản lý còn hạn chế; sự phối hợp giữa NHNN và Bộ Tài chính/UBCKNN chưa đạt hiệu quả tối ưu.

Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lập cơ sở lý luận, khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng QLNN đối với hoạt động huy động vốn qua phát hành chứng khoán (PHCK) của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2012–2018; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có căn cứ khoa học nhằm hoàn thiện công tác quản lý trong giai đoạn tiếp theo.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về huy động vốn, đặc điểm của NHTM tác động đến quyết định PHCK và QLNN về PHCK của NHTMCP dưới góc độ chuyên ngành Quản lý kinh tế; tổng hợp kinh nghiệm quốc tế để rút ra bài học cho Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng huy động vốn qua PHCK và thực trạng QLNN đối với hoạt động này tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2012–2018; đánh giá kết quả đạt được, hạn chế và chỉ rõ nguyên nhân.
  3. Đề xuất quan điểm, định hướng và các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện QLNN đối với hoạt động huy động vốn qua PHCK của các NHTMCP Việt Nam trong thời gian tới.

Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:

  • (i) Các đặc điểm của NHTM có tác động như thế nào đến quyết định huy động vốn qua PHCK của NHTMCP và đến nội dung, chủ thể QLNN đối với hoạt động này?
  • (ii) Nội dung, tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến QLNN đối với hoạt động huy động vốn qua PHCK của NHTMCP dưới góc độ tiếp cận của chuyên ngành Quản lý kinh tế là gì?
  • (iii) Thực trạng QLNN đối với hoạt động huy động vốn qua PHCK của NHTMCP ở Việt Nam giai đoạn 2012–2018 diễn ra như thế nào; đâu là những bất cập và nguyên nhân cốt lõi?
  • (iv) Cần triển khai những giải pháp nào để hoàn thiện và nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN đối với hoạt động huy động vốn qua PHCK của NHTMCP Việt Nam?

Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn về QLNN đối với hoạt động huy động vốn qua PHCK của các NHTMCP Việt Nam, tiếp cận theo chức năng quản lý (ban hành chính sách, tổ chức bộ máy, tổ chức triển khai hoạt động quản lý).

Phạm vi nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Về không gian: Nghiên cứu hoạt động huy động vốn qua phát hành cổ phiếu và trái phiếu theo phương thức chào bán ra công chúng và chào bán riêng lẻ của các NHTMCP Việt Nam đang niêm yết và giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX).
  • Về thời gian: Dữ liệu và thực tiễn được thu thập, đánh giá trong giai đoạn 2012–2018 (mốc mở đầu gắn với việc ban hành Nghị định số 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán) và định hướng phát triển đến năm 2020 cùng các năm tiếp theo.
  • Về chủ thể quản lý: Luận án giới hạn nghiên cứu hoạt động quản lý của NHNN và UBCKNN (trực thuộc Bộ Tài chính).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan thành ba hướng chính:

Hướng thứ nhất: Các nghiên cứu về huy động vốn qua phát hành chứng khoán của doanh nghiệp và ngân hàng thương mại. Ở trong nước, Nguyễn Hữu Tú (2014) nghiên cứu hoạt động huy động vốn của các doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu và trái phiếu chuyển đổi trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2000–2012, thống kê 8 ngân hàng thực hiện phát hành. Nguyễn Thị Anh Đào (2010) phân tích thực trạng tham gia của hệ thống NHTM vào TTCK Việt Nam trên các mảng kinh doanh, phát hành, niêm yết và đầu tư chứng khoán. Ở nước ngoài, Jo-Ann Suchard và Manohar Singh (2006) nghiên cứu các nhân tố quyết định việc phát hành chứng khoán lai tại thị trường Úc; Gishan Dissanaike, Jonathan Faasse và Ranadeva Jayasekera (2014) khảo sát 700 đợt phát hành cổ phiếu của 377 công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán London giai đoạn 2003–2012 để phân tích các tín hiệu thị trường trước và trong khủng hoảng tài chính.

Hướng thứ hai: Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với thị trường chứng khoán và các chủ thể tham gia. Nhiều công trình đã tiếp cận quản lý TTCK dưới nhiều khía cạnh: Lê Trung Thành (2010) về giám sát giao dịch chứng khoán giai đoạn 2000–2008; Bùi Văn Thạch (2010) về vai trò của nhà nước trong phát triển thị trường tài chính Việt Nam (2004–2009) cùng kinh nghiệm của Trung Quốc, Nhật Bản và Đông Nam Á; Vũ Thị Thúy Ngà (2011) về QLNN bằng pháp luật đối với công ty niêm yết; Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội - Chuyên san Luật học (2012) bàn về yêu cầu đồng bộ pháp luật chứng khoán với chuẩn mực quốc tế; Nguyễn Thị Thanh Hiếu (2012) về hoàn thiện QLNN đối với TTCK giai đoạn 2000–2010; Bùi Thị Thùy Nhi (2012) so sánh mô hình QLNN đối với TTCK tại Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc; Bùi Kim Thanh (2015) về QLNN đối với TTCK trong bối cảnh hội nhập quốc tế; PGS.TS. Lê Thị Hòa (2011) về tăng cường giám sát tuân thủ của tổ chức phát hành tại UBCKNN; ThS. Lê Thị Thu Hằng (2015) nghiên cứu cơ chế quản lý chào bán chứng khoán dựa trên CBTT đầy đủ; ThS. Lê Công Điền (2017) về khung pháp lý và giám sát công ty đại chúng; Hoàng Đức Long (2011) và ThS. Nguyễn Thị Huệ (2013) nghiên cứu định hướng sửa đổi, xây dựng Luật Chứng khoán thay thế Luật Chứng khoán năm 2006; Bùi Thanh (2011) về hoàn thiện khung pháp lý và tổ chức điều hành TTCK. Ở bình diện quốc tế, Donghua Chen, Yuyan Guan, Gang Zhao và Feifei Wu (2011) phân tích chế tài xử phạt ngầm của Chính phủ Trung Quốc đối với tổ chức bảo lãnh phát hành IPO; James Jinho Chang và Hyun-Han Shin (2004) xem xét tác động từ quy trình rà soát báo cáo đăng ký của Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa Kỳ (SEC) đến biến động giá cổ phiếu; Rafael La Porta, Florencio Lopez-de-Silanes và Andrei Shleifer (2006) nghiên cứu luật chứng khoán tại 49 quốc gia, chứng minh vai trò trọng yếu của quy định CBTT và trách nhiệm pháp lý dân sự; Báo cáo của Ủy ban Chứng khoán Malaysia (Securities Commission Malaysia, 2006) đúc kết lộ trình 3 giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế thẩm định chất lượng (merit-based) sang cơ chế quản lý dựa trên công bố thông tin (disclosure-based).

Hướng thứ ba: Các nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với ngân hàng thương mại. Nguyễn Thị Minh Huệ (2010) đánh giá thực trạng giám sát của NHNN đối với các NHTM theo các nguyên tắc Basel; Trịnh Thị Thủy (2015) nghiên cứu toàn diện QLNN đối với NHTM Việt Nam về thể chế, tổ chức hệ thống, nhân lực và thanh tra giám sát.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án nhận diện: Thứ nhất, các công trình về phát hành chứng khoán phần lớn tiếp cận dưới góc độ doanh nghiệp phi tài chính, chưa phân tích thấu đáo các yếu tố đặc thù của NHTM – định chế kinh doanh tiền tệ có độ nhạy cảm hệ thống cao và mạng lưới rộng khắp. Thứ hai, các nghiên cứu về QLNN đối với TTCK hoặc ngân hàng chủ yếu tiếp cận theo chuyên ngành Kinh tế chính trị, Luật kinh tế hoặc Tài chính – Ngân hàng với phạm vi bao quát chung, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động huy động vốn qua PHCK của NHTMCP dưới góc độ chuyên ngành Quản lý kinh tế. Thứ ba, dữ liệu thực tiễn của phần lớn các công trình trước đây dừng lại trước năm 2012, không còn phản ánh đúng bối cảnh tái cơ cấu ngân hàng và lộ trình áp dụng Basel II tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng lý thuyết quản trị ngân hàng thương mại (trích dẫn Peter S. Rose, 2001) và các quy định pháp lý (Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12; Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11 và Luật sửa đổi số 62/2010/QH12; Nghị định số 58/2012/NĐ-CP; Thông tư số 41/2016/TT-NHNN).

Tiếp cận dưới góc độ Quản lý kinh tế, QLNN đối với hoạt động huy động vốn qua PHCK của NHTMCP được định nghĩa là sự tác động có tổ chức, bằng quyền lực nhà nước của các cơ quan quản lý (chủ yếu là NHNN và Bộ Tài chính/UBCKNN) thông qua hệ thống cơ chế, chính sách, quy chuẩn và công cụ quản lý nhằm điều chỉnh các hành vi phát hành cổ phiếu và trái phiếu của NHTMCP, bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nhà đầu tư và thúc đẩy thị trường vốn phát triển minh bạch. Luận án xác lập 2 nhóm tiêu chí đánh giá hoạt động QLNN (mức độ hoàn thiện của hệ thống chính sách; hiệu lực, hiệu quả của bộ máy tổ chức và hoạt động thực thi) cùng 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng (nhân tố thuộc về chủ thể quản lý; nhân tố thuộc về chủ thể bị quản lý – NHTMCP; nhân tố thuộc về môi trường quản lý).

Về phương pháp nghiên cứu, luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:

  • Dữ liệu thứ cấp: Được thu thập từ báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các NHTMCP niêm yết; văn bản quy phạm pháp luật; số liệu công bố từ Tổng cục Thống kê, NHNN, UBCKNN, HOSE và HNX giai đoạn 2012–2018.
  • Dữ liệu sơ cấp:
    • Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu: Tác giả tiến hành phỏng vấn trực tiếp 5 cán bộ quản lý, bao gồm 1 cán bộ Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN), 2 cán bộ Vụ Quản lý chào bán chứng khoán (UBCKNN), và 2 cán bộ phụ trách công tác phát hành chứng khoán tại 2 NHTMCP (NHTMCP Công thương Việt Nam - VietinBank và NHTMCP Sài Gòn Thương Tín - Sacombank).
    • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Sử dụng phiếu khảo sát thiết kế theo thang đo Likert 5 mức độ (từ mức 1: hoàn thiện nhất/rất tốt/ảnh hưởng lớn nhất đến mức 5: ít hoàn thiện/không tốt/ít ảnh hưởng nhất tùy theo nhóm câu hỏi). Khảo sát được thực hiện qua hai kênh: phát phiếu giấy trực tiếp và khảo sát trực tuyến qua phần mềm. Tổng số phiếu phát ra là 194 phiếu, thu về 192 phiếu hợp lệ (tỷ lệ hợp lệ 100%, không có phiếu hỏng).
Nhóm đối tượng khảo sát Số phiếu hợp lệ thu về Tỷ lệ (%)
Bộ Tài chính 11 5,73%
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (Vụ Quản lý chào bán CK: 21; Vụ Giám sát TTCK: 7; Vụ Pháp chế: 6) 34 17,71%
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 13 6,77%
Các ngân hàng thương mại cổ phần 64 33,33%
Các công ty chứng khoán 45 23,44%
Các nhà nghiên cứu khoa học 25 13,02%
Tổng cộng 192 100,00%

Dữ liệu khảo sát sơ cấp được nhập liệu và xử lý bằng phần mềm SPSS 20.0 để tính toán giá trị điểm trung bình (Mean), đánh giá mức độ hoàn thiện thể chế, chất lượng tổ chức bộ máy, thực trạng triển khai hoạt động quản lý, từ đó xếp hạng thứ tự các hạn chế và nguyên nhân cốt lõi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về huy động vốn qua PHCK của doanh nghiệp và NHTM, công tác QLNN đối với TTCK và đối với NHTM. Tác giả luận giải tường tận các khoảng trống tri thức mà các công trình trước chưa giải quyết: thiếu góc nhìn chuyên sâu từ chuyên ngành Quản lý kinh tế đối với loại hình NHTMCP, thiếu dữ liệu thực chứng phản ánh giai đoạn 2012–2018 khi Basel II bắt đầu triển khai tại Việt Nam. Chương 1 cũng trình bày toàn bộ quy trình nghiên cứu, nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, phương pháp điều tra 192 đối tượng và công cụ phân tích thống kê mô tả SPSS 20.0, được tóm tắt tại Bảng 1.1 trong luận án.

Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn qua phát hành chứng khoán của các ngân hàng thương mại cổ phần

Chương 2 làm rõ bản chất kinh tế của NHTMCP và các kênh huy động vốn. Luận án phân tích chi tiết hai công cụ huy động vốn dài hạn chủ yếu:

  • Cổ phiếu: Xác nhận quyền sở hữu đối với vốn điều lệ; gồm cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu quỹ và cổ phiếu đang lưu hành. Phát hành cổ phiếu giúp ngân hàng bổ sung vốn tự có bậc 1, không chịu áp lực trả lãi cố định nhưng làm phân tán quyền kiểm soát và chịu chi phí phát hành, nghĩa vụ công bố thông tin khắt khe.
  • Trái phiếu: Xác nhận nghĩa vụ nợ; mệnh giá quy chuẩn tại Việt Nam là 100.000 đồng hoặc bội số; bao gồm trái phiếu chuyển đổi, trái phiếu kèm chứng quyền, trái phiếu quốc tế. Phát hành trái phiếu giúp ngân hàng nhanh chóng huy động nguồn vốn nợ trung và dài hạn (bổ sung vốn tự có bậc 2) mà không chia sẻ quyền quản trị, tuy nhiên chịu rủi ro nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi định kỳ.

Về phương thức phát hành, tác giả phân định rõ hai hình thức:

  • Chào bán ra công chúng: Phát hành rộng rãi cho công chúng đầu tư; điều kiện theo Nghị định số 58/2012/NĐ-CP gồm vốn điều lệ thực góp từ 10 tỷ đồng trở lên, hoạt động kinh doanh năm liền trước có lãi và không có lỗ lũy kế, có phương án sử dụng vốn được Đại hội đồng cổ đông thông qua. Quy trình phát hành gồm 4 bước chuẩn hóa: (1) Chuẩn bị hồ sơ và định giá chứng khoán; (2) Nộp hồ sơ và giải trình với UBCKNN; (3) Thông báo phát hành ra công chúng; (4) Chào bán, phân phối và báo cáo kết quả.
  • Chào bán riêng lẻ: Chào bán cho dưới 100 nhà đầu tư (không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp) và không sử dụng phương tiện thông tin đại chúng hoặc internet. Phương thức này có thủ tục rút gọn hơn, chi phí thấp hơn nhưng quy mô vốn huy động bị giới hạn.

Nội dung QLNN được luận án cấu trúc theo chức năng quản lý: xây dựng khung khổ pháp luật; thiết lập mô hình và bộ máy quản lý; tổ chức thẩm định, cấp phép phát hành; thanh tra, kiểm tra, giám sát tuân thủ và xử lý vi phạm; quản lý hoạt động công bố thông tin. Luận án phân tích kinh nghiệm quản lý của Hoa Kỳ (vai trò của SEC trong rà soát bản cáo bạch), Trung Quốc (cơ chế kỷ luật thị trường và xử lý vi phạm bảo lãnh phát hành), Malaysia (lộ trình chuyển đổi từ cơ chế phê duyệt chất lượng sang cơ chế công bố thông tin đầy đủ) để rút ra các bài học về tính minh bạch, sự phối hợp liên ngành và năng lực cưỡng chế thực thi.

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn qua phát hành chứng khoán của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Chương 3 tập trung phân tích bức tranh thực tiễn giai đoạn 2012–2018:

  • Thực trạng huy động vốn: Hoạt động PHCK của các NHTMCP diễn ra sôi động nhằm đáp ứng yêu cầu an toàn vốn. Luận án thống kê sự tăng trưởng mạnh về số lượng cổ phiếu phát hành (Bảng 3.3), giá trị trái phiếu phát hành trong nước (Bảng 3.4), giá trị trái phiếu quốc tế (Bảng 3.5), và theo dõi tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống NHTMCP (Bảng 3.8). Áp lực tuân thủ Thông tư số 41/2016/TT-NHNN khiến việc phát hành trái phiếu thứ cấp tăng vọt để bù đắp vốn tự có cấp 2.
  • Thực trạng khung pháp lý và tổ chức bộ máy: Luận án phân tích hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Luật Chứng khoán, Luật Các tổ chức tín dụng, Nghị định số 58/2012/NĐ-CP, Nghị định số 60/2015/NĐ-CP, Thông tư số 204/2012/TT-BTC) và chỉ ra tình trạng thiếu đồng bộ, mâu thuẫn giữa luật chuyên ngành chứng khoán và ngân hàng. Về bộ máy, luận án làm rõ cấu trúc tổ chức qua Sơ đồ 3.1, Sơ đồ 3.2 (Vụ Quản lý chào bán chứng khoán thuộc UBCKNN) và Sơ đồ 3.3 (Cơ cấu giám sát của NHNN).
  • Thực trạng triển khai: Số lượt cấp phép PHCK qua các năm (Bảng 3.6), tình hình xử lý vi phạm hành chính (Bảng 3.7), công tác thanh tra mục đích sử dụng vốn sau phát hành.
  • Kết quả khảo sát thực nghiệm bằng SPSS (Bảng 3.9 đến Bảng 3.19): Khảo sát 192 chuyên gia và nhà quản lý cho thấy hệ thống chính sách vẫn còn bất cập về quy định mục đích sử dụng vốn và chế tài xử lý vi phạm; cơ chế phối hợp giữa NHNN và Bộ Tài chính/UBCKNN chưa thực sự nhịp nhàng; công tác kiểm soát CBTT còn mang tính hình thức.

Tổng hợp từ nghiên cứu định tính và định lượng, luận án chỉ ra 4 nhóm hạn chế lớn và 14 nguyên nhân tác động:

Thứ tự xếp hạng hạn chế Nhóm hạn chế được xác định Thứ tự mức độ tác động của nguyên nhân theo 3 nhóm
1 Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động PHCK của NHTMCP Nhóm chủ thể quản lý (6 nguyên nhân):
1. Thủ tục hành chính pháp lý
2. Đội ngũ cán bộ quản lý
3. Năng lực nhận thức và quản lý
4. Trách nhiệm thực thi công vụ
5. Quan điểm, đường lối phát triển ngân hàng - TTCK
6. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật QLNN
2 Mô hình tổ chức và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhóm chủ thể bị quản lý - NHTMCP (4 nguyên nhân):
1. Ý thức tuân thủ pháp luật
2. Sự hiểu biết pháp luật về PHCK
3. Hiệu quả quản trị ngân hàng
4. Mức độ phát triển quy mô ngân hàng
3 Tình hình triển khai các hoạt động QLNN thực tế Nhóm môi trường quản lý (4 nguyên nhân):
1. Môi trường pháp luật chung
2. Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
3. Quy mô thị trường PHCK
4. Thể chế kinh tế
4 Sự phối kết hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước

Chương 4: Định hướng, quan điểm và giải pháp hoàn thiện QLNN đối với hoạt động huy động vốn qua phát hành chứng khoán của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Chương 4 dự báo bối cảnh kinh tế trong nước, quốc tế và nhu cầu tăng vốn rất lớn của các NHTMCP nhằm đáp ứng tiêu chuẩn Basel II (Bảng 3.20). Tác giả đề xuất 4 quan điểm chỉ đạo hoàn thiện QLNN và xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện:

  • Nhóm giải pháp 1: Hoàn thiện khung khổ pháp lý. Rà soát, sửa đổi Luật Chứng khoán và đồng bộ hóa với Luật Các tổ chức tín dụng; ban hành các hướng dẫn chi tiết về tiêu chuẩn, điều kiện phát hành trái phiếu chuyển đổi, phát hành chứng khoán ra công chúng và chào bán riêng lẻ của tổ chức tín dụng.
  • Nhóm giải pháp 2: Hoàn thiện mô hình và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý. Kiện toàn tổ chức của UBCKNN theo hướng tăng tính độc lập thẩm quyền; nâng cao vị thế và năng lực chuyên môn của Vụ Quản lý chào bán chứng khoán; chuẩn hóa quy trình thẩm định hồ sơ.
  • Nhóm giải pháp 3: Hoàn thiện các hoạt động triển khai QLNN. Nâng cao chất lượng thẩm định hồ sơ xin phép phát hành; từng bước chuyển đổi cơ chế quản lý từ tiền kiểm (thẩm định theo chất lượng) sang hậu kiểm (quản lý dựa trên công bố thông tin đầy đủ); tăng cường giám sát việc sử dụng vốn thu được từ các đợt phát hành đúng phương án đã được phê duyệt; xử lý nghiêm minh các sai phạm về thông tin sai lệch.
  • Nhóm giải pháp 4: Tăng cường sự phối kết hợp trong QLNN. Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành chính thức, thường xuyên và ràng buộc trách nhiệm giữa Bộ Tài chính, UBCKNN và NHNN; xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung để chia sẻ thông tin giám sát dòng tiền, tỷ lệ an toàn vốn và tình hình tài chính của NHTMCP.
  • Nhóm giải pháp hỗ trợ và điều kiện thực thi: Đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn và đạo đức công vụ cho đội ngũ công chức thanh tra, giám sát; đầu tư hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ giám sát giao dịch và CBTT điện tử.

Luận án đưa ra các kiến nghị cụ thể phân tầng theo 4 cấp thẩm quyền:

  1. Đối với Quốc hội và Chính phủ: Hoàn thiện thể chế thị trường tài chính, ban hành Luật Chứng khoán mới bảo đảm tính đồng bộ với Luật Doanh nghiệp và Luật Các tổ chức tín dụng.
  2. Đối với Bộ Tài chính và UBCKNN: Rút ngắn thời gian thẩm định hồ sơ, nâng cao tính minh bạch trong quy trình cấp phép, hiện đại hóa cổng thông tin điện tử tiếp nhận báo cáo.
  3. Đối với Ngân hàng Nhà nước: Hướng dẫn chi tiết việc tính toán tỷ lệ an toàn vốn theo Basel II, tăng cường thanh tra việc sử dụng vốn huy động từ trái phiếu của các NHTMCP.
  4. Đối với các NHTMCP Việt Nam: Nâng cao năng lực quản trị rủi ro, tuân thủ nghiêm túc chế độ CBTT, lập phương án phát hành và sử dụng vốn khả thi, gắn liền với nâng cao năng lực tài chính dài hạn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu những đóng góp mới trên ba phương diện học thuật, thực tiễn và chính sách:

Về học thuật và lý luận:

  • Xác lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về nội dung QLNN đối với hoạt động huy động vốn qua PHCK của NHTMCP dưới góc độ chuyên ngành Quản lý kinh tế.
  • Phân tích và làm rõ những điểm khác biệt đặc thù về nội dung và chủ thể quản lý đối với NHTMCP so với doanh nghiệp phi tài chính thông thường, xuất phát từ yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống tiền tệ quốc gia.
  • Cụ thể hóa hệ thống 2 nhóm tiêu chí đánh giá hoạt động QLNN và 3 nhóm nhân tố tác động đối với lĩnh vực chuyên ngành huy động vốn qua PHCK của NHTMCP.

Về kết luận đánh giá thực tiễn:

  • Thông qua kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng (xử lý dữ liệu điều tra 192 phiếu bằng phần mềm SPSS 20.0), luận án đã lượng hóa và xếp hạng 4 hạn chế chính theo thứ tự mức độ nghiêm trọng: (1) Khung pháp lý; (2) Mô hình và cơ cấu tổ chức bộ máy; (3) Tình hình triển khai hoạt động quản lý; (4) Sự phối hợp giữa các cơ quan.
  • Xác định và xếp hạng mức độ ảnh hưởng của 14 nguyên nhân thuộc 3 nhóm (6 nguyên nhân từ chủ thể quản lý, 4 nguyên nhân từ NHTMCP, 4 nguyên nhân từ môi trường quản lý), làm rõ các điểm nghẽn về thủ tục hành chính, năng lực cán bộ và sự phối hợp liên ngành.

Về đề xuất chính sách và giải pháp:

  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp cơ bản mang tính hệ thống, 1 nhóm giải pháp điều kiện hỗ trợ, có lộ trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý dựa trên chất lượng sang cơ chế quản lý dựa trên công bố thông tin đầy đủ.
  • Xây dựng hệ thống khuyến nghị đồng bộ, khả thi cho 4 chủ thể liên quan: Quốc hội/Chính phủ, Bộ Tài chính/UBCKNN, NHNN và các NHTMCP.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án (dựa trên phạm vi nghiên cứu):

  • Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn tại các NHTMCP đang niêm yết và đăng ký giao dịch trên sàn HOSE và HNX, chưa mở rộng khảo sát đối với các NHTMCP chưa niêm yết hoặc các loại hình tổ chức tín dụng khác (như ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng liên doanh, công ty tài chính).
  • Dữ liệu thứ cấp và khảo sát thực nghiệm tập trung trong giai đoạn 2012–2018, chưa bao quát được các biến động pháp lý sau khi Luật Chứng khoán năm 2019 được ban hành và đi vào hiệu lực.
  • Luận án mới chỉ tập trung vào hai công cụ truyền thống là cổ phiếu và trái phiếu, chưa đi sâu vào các công cụ vốn lai phức tạp hoặc các sản phẩm chứng khoán phái sinh liên kết nợ ngân hàng.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang toàn bộ hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, bao gồm cả các định chế tài chính phi ngân hàng.
  • Đánh giá tác động thực thi của Luật Chứng khoán năm 2019 và Thông tư số 41/2016/TT-NHNN trong giai đoạn các ngân hàng thương mại áp dụng toàn diện chuẩn mực Basel II và Basel III.
  • Nghiên cứu cơ chế QLNN đối với các hình thức huy động vốn mới như phát hành trái phiếu xanh (green bonds) và chứng khoán hóa tài sản của hệ thống ngân hàng thương mại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN, NHNN): Luận án cung cấp các cứ liệu thực chứng và kết quả phân tích định lượng về những bất cập trong thủ tục hành chính, sự chồng chéo chức năng và sự thiếu hụt cơ chế chia sẻ thông tin liên ngành, làm cơ sở thực tiễn cho việc sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật và hoàn thiện quy chế phối hợp giám sát thị trường tài chính.
  • Đối với ban lãnh đạo và bộ phận quản trị tài chính tại các NHTMCP: Luận án cung cấp bức tranh toàn diện về quy chuẩn pháp lý, quy trình phát hành ra công chúng và phát hành riêng lẻ, giúp các ngân hàng chủ động xây dựng phương án tăng vốn tự có đáp ứng chuẩn Basel II, đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật và chuẩn mực CBTT.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Tài chính – Ngân hàng: Luận án là tài liệu tham khảo tiêu biểu về phương pháp luận kết hợp định tính và định lượng (điều tra bằng bảng hỏi quy mô 192 mẫu, xử lý bằng SPSS 20.0, phỏng vấn sâu chuyên gia) để giải quyết một đề tài quản lý nhà nước chuyên ngành có tính liên ngành cao giữa kinh tế học và luật học.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao luận án lại lựa chọn mốc thời gian nghiên cứu thực trạng từ năm 2012 đến năm 2018? Năm 2012 là thời điểm Chính phủ ban hành Nghị định số 58/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chứng khoán. Đây là văn bản tạo cơ sở pháp lý căn bản cho hoạt động PHCK của doanh nghiệp và ngân hàng. Trước năm 2012, chỉ có một vài NHTMCP thực hiện phát hành (như Sacombank, Vietcombank, VietinBank, Eximbank). Giai đoạn 2012–2018 ghi nhận sự gia tăng đột biến về số lượng ngân hàng tham gia PHCK nhằm đáp ứng yêu cầu tăng vốn theo tiêu chuẩn Basel II (quy định tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN).

2. Mẫu khảo sát sơ cấp của luận án được phân bổ như thế nào? Tổng số phiếu phát ra là 194 phiếu, thu về 192 phiếu hợp lệ (45 phiếu giấy và 147 phiếu qua phần mềm trực tuyến). Mẫu gồm 6 nhóm: Bộ Tài chính (11 phiếu); UBCKNN (34 phiếu, gồm Vụ Quản lý chào bán CK 21, Vụ Giám sát TTCK 7, Vụ Pháp chế 6); NHNN (13 phiếu); các NHTMCP (64 phiếu); các công ty chứng khoán (45 phiếu); các nhà nghiên cứu khoa học (25 phiếu).

3. Bốn hạn chế lớn nhất trong QLNN được chỉ ra qua phân tích định lượng là gì? Qua xử lý số liệu điều tra bằng phần mềm SPSS 20.0, luận án xếp hạng 4 hạn chế theo thứ tự từ mức độ nghiêm trọng nhất đến thấp hơn: (1) Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động PHCK của NHTMCP; (2) Mô hình tổ chức và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý; (3) Tình hình triển khai các hoạt động QLNN thực tế; (4) Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý (NHNN và Bộ Tài chính/UBCKNN).

4. Luận án đề xuất giải pháp cốt lõi nào nhằm hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý? Luận án đề xuất thiết lập quy chế phối kết hợp chính thức, ràng buộc trách nhiệm cụ thể giữa Bộ Tài chính, UBCKNN và NHNN trong việc thẩm định phương án phát hành, cấp phép chào bán chứng khoán, thanh tra việc sử dụng vốn sau phát hành; đồng thời xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung để chia sẻ thông tin giám sát an toàn vốn và các chỉ tiêu an toàn tài chính của NHTMCP.

5. Điều kiện chào bán cổ phiếu ra công chúng của tổ chức phát hành theo Nghị định 58/2012/NĐ-CP được nêu trong luận án gồm những gì? Điều kiện gồm: Vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký chào bán từ 10 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán; hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký chào bán phải có lãi, đồng thời không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký chào bán; có phương án phát hành và phương án sử dụng vốn thu được từ đợt chào bán được Đại hội đồng cổ đông thông qua.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thu Hằng là công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về quản lý nhà nước đối với hoạt động huy động vốn qua phát hành chứng khoán của các NHTMCP Việt Nam dưới góc độ chuyên ngành Quản lý kinh tế. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng với bộ dữ liệu khảo sát 192 mẫu được xử lý qua phần mềm SPSS 20.0, luận án đã làm rõ cơ sở lý thuyết, phân tích thực trạng giai đoạn 2012–2018, đồng thời định vị chính xác 4 hạn chế và 14 nguyên nhân chi phối công tác quản lý. Hệ thống giải pháp đồng bộ và các kiến nghị phân tầng cho 4 cấp thẩm quyền có giá trị thực tiễn cao, đóng góp thiết thực vào việc hoàn thiện thể chế quản lý thị trường tài chính và nâng cao năng lực an toàn vốn của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam.