Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về cấu trúc vốn. Chương 3: Phương pháp, dữ liệu và mô hình nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và giải thích các nhân tố ảnh hưởng.
Chương 5: Kết luận. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC VỐN 2.1 Cấu trúc vốn và cấu trúc vốn tối ưu ở các doanh nghiệp 2.1 Khái niệm cấu trúc vốn Cấu trúc vốn là sự kết hợp của nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường được sử dụng để tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp.2 Khái niệm cấu trúc vốn tối ưu Cấu trúc vốn tối ưu là một hỗn hợp nợ ngắn hạn thường xuyên, nợ dài hạn, cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường cho phép tối thiểu hóa chi phí sử dụng vốn bình quân, tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa thu nhập của chủ sở hữu doanh nghiệp. Như vậy, để xây dựng được cấu trúc vốn tối ưu, chúng ta cần xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.2 Các lý thuyết về cấu trúc vốn 2.1 Quan điểm truyền thống Quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn cho rằng khi một doanh nghiệp bắt đầu vay mượn thì thuận lợi vượt trội hơn bất lợi vì chi phí nợ thấp, kết hợp với thuận lợi về thuế sẽ khiến WACC (Chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền) giảm khi nợ tăng. Tuy nhiên, khi tỷ lệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu tăng, tác động của tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn buộc các chủ sở hữu tăng lợi tức yêu cầu của họ (nghĩa là chi phí vốn chủ sở hữu sẽ tăng).
Ở mức tỷ lệ vốn nợ vay và vốn chủ sở hữu cao, chi phí nợ vay cũng tăng bởi vì khả năng doanh nghiệp không trả được nợ là cao hơn (nguy cơ phá 6 sản cao hơn). Vì vậy, ở mức tỷ số giữa vốn nợ và vốn chủ sở hữu cao hơn, WACC sẽ tăng. Tuy vậy, quan điểm truyền thống không có một lý thuyết cơ sở thể hiện chi phí vốn chủ sở hữu nên tăng bao nhiêu hay chi phí nợ nên tăng bao nhiêu để tránh nguy cơ vỡ nợ.2 Quan điểm hiện đại Lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại bắt đầu với lý thuyết MM của Franco Modigliani và Merton Miller vào năm 1958. Theo lý thuyết này, sự lựa chọn giữa vốn chủ sở hữu và nợ không liên quan đến giá trị của DN.
Sau đó, lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại được tiếp tục phát triển với lý thuyết đánh đổi, lý thuyết trật tự phân hạng,.1 Lý thuyết Modigliani & Miller Lý thuyết MM được Franco Modigliani và Merton Miller nêu ra lần đầu tiên trong bài nghiên cứu “Chi phí sử dụng vốn, tài chính doanh nghiệp và lý thuyết đầu tư” đăng trên tạp chí American Economic Review vào năm 1958. Lý thuyết MM được phát biểu dưới hai mệnh đề: mệnh đề thứ nhất (I) nói về giá trị DN, mệnh đề thứ hai (II) nói về chi phí sử dụng vốn. Và cả hai mệnh đề này được xem xét trong hai trường hợp có thuế thu nhập và không có thuế thu nhập. a) Trường hợp không có thuế thu nhập Lý thuyết MM (1958) được xây dựng dựa vào các giả định của thị truờng vốn hoàn hảo: - Không có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân - Không có chi phí giao dịch - Không có chi phí phá sản và chi phí kiệt quệ tài chính - Cá nhân và công ty đều có thể vay hay cho vay ở mức lãi suất như nhau Với các giả định trên, lý thuyết MM phát biểu như sau: 7 Mệnh đề thứ nhất: trong điều kiện không có thuế, giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị của công ty không có vay nợ, tức là.
Hay nói cách khác là trong điều kiện không có thuế, giá trị công ty có vay nợ và không vay nợ là như nhau, do đó cơ cấu nợ/vốn không có ảnh huởng gì đến giá trị công ty. Theo định đề này, một DN không thể thay đổi tổng giá trị các chứng khoán của mình bằng cách phân chia các dòng tiền thành các dòng khác nhau: giá trị của DN được xác định bằng các tài sản thực, chứ không phải bằng chứng khoán mà DN phát hành. Như vậy, không có cơ cấu vốn nào là tối ưu và công ty cũng không thể làm tăng giá trị của mình bằng cách thay đổi cấu trúc vốn. Mệnh đề thứ hai: lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần hay tỷ suất sinh lợi dự kiến từ vốn cổ phần thường của 1 DN có vay nợ tăng tương ứng với tỷ lệ nợ/vốn cổ phần, được đo lường bằng giá trị thị trường, tức là lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ.
b) Trường hợp có thuế thu nhập Việc giả định không có thuế thu nhập là không phù hợp với thực tế. Thực vậy, trên thực tế luôn tồn tại các bất hoàn hảo của thị trường như: thuế, sự bất cân xứng thông tin,… Chính vì vậy, MM tiếp tục nghiên cứu về tác động của thuế trong cấu trúc vốn và công bố nghiên cứu “Thuế thu nhập DN và chi phí sử dụng vốn” trên tạp chí American Economic Review vào năm 1963. Nghiên cứu này xem xét mối liên hệ giữa CTV và giá trị DN có tính đến ảnh hưởng của thuế thu nhập DN Mệnh đề thứ nhất: Trong truờng hợp có thuế thu nhập công ty, giá trị của DN có vay nợ bằng giá trị DN không có vay nợ cộng với hiện giá của tấm chắn thuế. Mệnh đề thứ hai: Trong truờng hợp có thuế, lợi nhuận yêu cầu trên vốn cổ phần có quan hệ cùng chiều với mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính hay tỷ số nợ và mối quan hệ này đuợc diễn tả bởi công thức Như vậy, theo MM, trong truờng hợp có thuế, giá trị công ty sẽ tăng lên và chi phí sử dụng vốn trung bình sẽ giảm xuống khi công ty gia tăng việc sử dụng nợ.
Tuy nhiên, trên thực tế, rất nhiều DN tăng trưởng tốt nhưng thay vì có một CTV với tỉ lệ nợ tối đa 8 nhằm tận dụng lợi ích của tấm chắn thuế thì họ lại không sử dụng nợ hoặc sử dụng nợ ở mức rất thấp. Một số tác giả khác cho rằng trên thực tế giá trị công ty sẽ không tăng mãi khi tỷ số nợ gia tăng, bởi vì khi tỷ số nợ gia tăng làm phát sinh một loại chi phí, gọi là chi phí kiệt quệ tài chính (financial distress costs), và kết quả là làm giảm đi sự gia tăng giá trị của công ty có vay nợ. Theo các tác giả này, tỷ số nợ sẽ gia tăng tới một điểm mà tại đó, chi phí kiệt quệ tài chính sẽ vuợt qua lợi ích của tấm chắn thuế, và khi ấy giá trị công ty có vay nợ bắt đầu giảm dần. Lý luận tương tự, chi phí sử dụng vốn trung bình của công ty bắt đầu tăng lên.
Như vậy, với lợi thế tương đối của nợ, việc vay nợ có thể là hành vi khôn ngoan đối với những DN có đủ khả năng trả nợ. Tuy nhiên, đối với các DN gặp nhiều khó khăn trong việc đạt được đủ lợi nhuận để hưởng lợi từ tấm chắn thuế thu nhập DN, việc vay nợ quá nhiều có thể đẩy công ty đến tình trạng kiệt quệ về tài chính và thậm chí có thể đưa đến phá sản.2 Lý thuyết đánh đổi Theo lý thuyết này, quyết định về cấu trúc nợ - vốn cổ phần là sự đánh đổi giữa tấm chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính và họ cho rằng tồn tại 1 CTV tối ưu nhằm tối đa hóa giá trị DN, đó là CTV có tỉ lệ đòn bẩy là sự cân bằng giữa lợi ích và chi phí của nợ. Ở đây, lợi ích của nợ là lợi ích từ tấm chắn thuế và chi phí của nợ là chi phí kiệt quệ tài chính và chi phí đại diện giữa chủ sở hữu và chủ nợ. Lý thuyết đánh đổi thừa nhận rằng giữa các DN khác nhau sẽ có tỷ lệ nợ mục tiêu khác nhau do đó giải thích đuợc tỷ lệ nợ khác nhau giữa các ngành.
Các DN có tài sản 9 hữu hình an toàn và nhiều thu nhập chịu thuế để được hưởng khấu trừ thuế nên có tỷ lệ nợ mục tiêu cao. Còn các DN không sinh lợi có các tài sản vô hình nhiều rủi ro thì nên tài trợ chủ yếu bằng vốn cổ phần.1 - Đánh đổi chi phí và lợi ích Lý thuyết cấu trúc vốn này giải thích được nhiều khác biệt về cấu trúc vốn trong các ngành khác nhau, nhưng không giải thích được tại sao các DN sinh lợi nhiều nhất trong ngành lại sử dụng nợ ít nhất, tức là họ đã từ bỏ lợi ích từ tấm chắn thuế, trong khi theo lý thuyết đánh đổi, DN có khả năng sinh lợi cao nên vay nợ nhiều vì sẽ được hưởng nhiều lợi ích từ việc khấu trừ thuế thu nhập.3 Lý thuyết trật tự phân hạng Lý thuyết trật tự phân hạng được nghiên cứu khởi đầu bởi Donaldson (1961) và sau đó được nghiên cứu sâu hơn bởi Myers và Majluf (1984). Lý thuyết trật tự phân hạng được xây dựng chủ yếu dựa trên sự ảnh huởng của bất cân xứng thông tin lên quyết định đầu tư và tài trợ của doanh nghiệp chứ không dựa trên tỷ lệ nợ/tài sản để 10 quyết định kết cấu vốn. Sự bất cân xứng thông tin hàm ý các nhà quản lý trong DN luôn có nhiều thông tin về tiềm năng, rủi ro của DN hơn những nhà đầu tư bên ngoài.
Thông tin bất cân xứng tác động đến lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ từ bên ngoài, giữa phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phần. Điều này đưa tới một trật tự phân hạng khi DN có nhu cầu về vốn như sau: - DN ưu tiên huy động vốn từ nguồn vốn tự tích lũy trước, chủ yếu là từ lợi nhuận giữ lại. - Nếu nguồn vốn nội bộ vẫn không đủ thì mới phải huy động thêm vốn từ bên ngoài. Khi đó, DN sẽ chọn phát hành chứng khoán an toàn trước, sau đó mới đến phát hành chứng khoán rủi ro hơn.
o Nợ vay được lựa chọn trước o Rồi đến chứng khoán lãi giữa nợ và vốn cổ phần (trái phiếu chuyển đổi chẳng hạn) o Cuối cùng là phát hành vốn cổ phần mới. Việc phát hành vốn cổ phần mới thường là phương án cuối cùng khi công ty đã sử dụng hết khả năng vay nợ.