CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP 1. Vốn lưu động và vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm chu chuyển của vốn lưu động Để tiến hành sản xuất kinh doanh, bất kỳ DN nào cũng cần phải có một lượng vốn nhất định.
Số vốn tiền tệ ứng trước đó được gọi là vốn kinh doanh, được DN sử dụng để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Căn cứ theo đặc điểm luân chuyển của các bộ phận vốn, vốn kinh doanh của DN được phân chia thành vốn cố định và vốn ưu động (VLĐ). Vốn cố định là số vốn đầu tư hình thành nên các tài sản cố định (TSCĐ) của DN như nhà xưởng, máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất. phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh lâu dài của DN.
Trong khi đó, VLĐ là số vốn ứng trước để hình thành các tài sản lưu động (TSLĐ) cần thiết phục vụ cho hoạt động thường xuyên trong chu kỳ sản xuất kinh doanh, nhằm đảm bảo cho hoạt động của DN được diễn ra liên tục. Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về VLĐ. Theo Mann (1918), VLĐ là lượng tiền hoặc tương đương tiền cần thiết để DN tiến hành các hoạt động hàng ngày. Quan niệm này sau đó đã được nhiều học giả đồng tình sử dụng.
Theo Moyer, McGuigan và Kretlow (2004), VLĐ là những khoản tiền cần thiết để thanh toán cho những hoạt động kinh doanh hàng ngày của DN. Cùng quan điểm này, Kulkanya Napompech (2012) cho rằng VLĐ là số tiền cần thiết cho các hoạt động hàng ngày của một công ty, là khoản vốn của công ty dùng để đầu tư vào tài sản lưu động và sử dụng một phần nợ ngắn hạn để tài trợ cho sự đầu tư. Còn Garcia-Teruel và Martinez-Solano (2006) định nghĩa VLĐ hay VLĐ gộp (Gross working capital) là tổng tài sản ngắn hạn của DN, bao gồm: tiền mặt và các khoản tương đương tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, nợ phải thu ngắn hạn, HTK, các tài sản ngắn hạn khác (chi phí trả 17 trước ngắn hạn) sử dụng để tài trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày của DN. Trong khi đó, với các nhà nghiên cứu Van Horne và Wachowicz (2005), Brigham và Houston (2007), Firer, Ross, Westerfiel và Jordan (2008) thì cho rằng VLĐ là khoản chênh lệch giữa tổng tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn, trong đó nợ ngắn hạn bao gồm các khoản vay và nợ ngắn hạn, phải trả người bán, người mua trả tiền trướcvà các khoản phải trả ngắn hạn khác.
Lorenzo Preve và Virginia Sarnia-Allerde (2010) cho rằng VLĐ là một khái niệm phức tạp mà các nhà quản lý sẽ gặp khó khăn nếu chỉ dựa vào định nghĩa một cách truyền thống theo sách vở. James Sagner (2011) khẳng định VLĐ vô cùng quan trọng đối với một DNvà việc quản trị VLĐ là một nghệ thuật trong việc tổ chức quản lý các nguồn lực ngắn hạn của công ty để duy trì các hoạt động đang diễn ra, huy động vốn và tối ưu hoá thanh khoản. Tại Việt Nam, nhiều nhà khoa học cũng đã có quan điểm khá tương đồng về VLĐ. Các tác giả Thế Đạt và Phan Quang Niệm (1973) nhận định: VLĐ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản lưu động và tài sản lưu thông của xí nghiệp công nghiệp.
Trương Mộc Lâm (1993) cũng cho rằng: VLĐ của DN là số tiền ứng trước về tài sản lưu động và tài sản lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của DN thực hiện được thường xuyên, liên tục. Đồng quan điểm này, Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh (2013) chỉ ra rằng: VLĐ là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ cần thiết cho hoạt động SXKD của DN, nói cách khác, VLĐ là biểu hiện bằng tiền của các TSLĐ. Nguyễn Văn Thuận (2006) cho rằng VLĐ ám chỉ các khoản đầu tư của DN vào tài sản ngắn hạn như tiền mặt, chứng khoán thanh khoản cao, nợ phải thu, tồn kho. Theo quan điểm của nghiên cứu sinh: VLĐ của DN là số vốn ứng trước để hình thành nên TSLĐ, đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN diễn ra một cách thường xuyên, liên tục.
18 Nói chung, đối với các DN SXKD, sự vận động của VLĐ trong quá trình tham gia SXKD có thể chia thành ba giai đoạn sau: • Giai đoạn 1 (T – H): DN trả tiền mua nguyên, nhiên, vật liệu để dự trữ dùng dần cho quá trình sản xuất. Như vậy, kết thúc giai đoạn này, VLĐ đã chuyển từ hình thái vốn tiền tệ (T) sang hình thái vốn vật tư, hàng hoá (H). • Giai đoạn 2 (H … SX … H’): DN đưa nguyên, nhiên, vật liệu vào dự trữ hình thành vật tư dự trữ sản xuất; sau đó, các vật tư dự trữ được xuất dùng dần đưa vào quá trình sản xuất chế biến. Trải qua các giai đoạn của quá trình sản xuất, vật tư dự trữ được chuyển thành các sản phẩm chế biến dở dang, bán thành phẩm, cuối cùng trở thành thành phẩm khi kết thúc chu kỳ sản xuất.
Ở giai đoạn này, VLĐ đã từ hình thái vốn vật tư hàng hóa chuyển sang hình thái vốn sản phẩm dở dang và cuối cùng chuyển sang hình thái vốn hàng hóa, thành phẩm (H’). • Giai đoạn 3 (H’ – T’): DN tiến hành tiêu thụ sản phẩm và thu tiền về. Ở giai đoạn này, VLĐ đã chuyển từ hình thái vốn hàng hóa, thành phẩm (H’) sang hình thái vốn về nợ phải thu, sau đó khi DN thu được tiền bán hàng thì VLĐ đã từ hình thái nợ phải thu đã trở về hình thái vốn tiền tệ (T’) ban đầu. Thông thường T’ > T nên kết thúc quá trình SXKD, vì vậy, khi kết thúc vòng tuần hoàn của VLĐ cũng gắn liền với việc DN thu được doanh thu bán hàng và lợi nhuận về tiêu thụ sản phẩm.
VLĐ của DN luôn không ngừng vận động qua các chu kỳ SXKD và chuyển hóa qua lại giữa nhiều hình thái khác nhau. Từ hình thái vốn tiền tệ lúc ban đầu chuyển thành vật tư dự trữ sản xuất, sau đó trở thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm và cuối cùng lại trở về hình thái vốn bằng tiền. Sự vận động của VLĐ từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu, trải qua các giai đoạn vận động khác nhau trong quá trình tham gia sản xuất, cuối cùng trở về hình thái tiền tệ ban đầu được gọi là vòng tuần hoàn của VLĐ. Do quá trình SXKD diễn ra liên tục nên sự tuần hoàn của VLĐ cũng lặp đi lặp lại có tính 19 chất chu kỳ và được gọi là Chu chuyển của VLĐ.
Thời gian cần thiết để VLĐ thực hiện được một vòng tuần hoàn được gọi là kỳ chu chuyển của VLĐ. Vòng tuần hoàn VLĐ của các DN sản xuất được biểu hiện qua sơ đồ sau: T – H … SX … H’ – T’ Đối với DN thương mại - dịch vụ thì vòng tuần hoàn của VLĐ thực hiện như sau: T – H – T’ Như vậy, so với vốn cố định thì quá trình chu chuyển của VLĐ có những đặc điểm chủ yếu sau: (1) VLĐ tham gia vào một chu kỳ SXKD và luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các giai đoạn trong quá trình SXKD, từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu trở thành vật tư, hàng hoá dự trữ sản xuất, tiếp đến trở thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm và cuối cùng lại trở về hình thái vốn bằng tiền; (2) VLĐ chu chuyển toàn bộ giá trị một lần trong quá trình sản xuất kinh doanh. Khi quy mô kinh doanh thay đổi thì quy mô nhu cầu VLĐ của DN cũng thay đổi theo. (3) Vòng quay VLĐ gắn liền với việc DN kết thúc một chu kỳ kinh doanh.
Quá trình trên diễn ra thường xuyên, liên tục, được lặp đi lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh, tạo thành vòng tuần hoàn của VLĐ. Vai trò của vốn lưu động trong doanh nghiệp VLĐ có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của DN. Thứ nhất, VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình SXKD. Một DN muốn bắt đầu đi vào sản xuất thì ngoài TSCĐ như máy móc, thiết bị, nhà xưởng.
DN cũng cần nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình sản xuất, tiền để trả lương người lao động và mua hàng hoá của nhà cung cấp. Nếu coi DN như một cơ thể sống, thì VCĐ là hệ thống xương cốt, thể hiện cơ sở vật 20 chất của quá trình SXKD, thì VLĐ được coi là mạch máu, bắp thịt đảm bảo sự tồn tại và phát triển của DN, duy trì các hoạt động của DN diễn ra bình thường liên tục. Quy mô của VLĐ ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô SXKD của DN. Đặc biệt đối với DN thương mại, VLĐ giúp tăng khả năng cạnh tranh, nhờ có cơ chế lưu trữ, khả năng tài chính trong quan hệ đối ngoại, tận dụng được cơ hội kinh doanh và khả năng cấp tín dụng cho khách hàng.
Đây là lợi thế rất lớn trong nền kinh tế thị trường có tính cạnh tranh gay gắt hiện nay. Thứ hai, thông qua phân tích đánh giá sự vận động của VLĐ trong các khâu giúp nhà quản trị DN có thể kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh doanh của DN. Trong cùng một lúc, VLĐ được phân bổ trên khắp các giai đoạn của quá trình SXKD dưới nhiều hình thức khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được diễn ra liên tục, DN phải có đủ vốn để đầu tư vào các hình thái khác nhau đó.
Sự tắc nghẽn ở bất kỳ nơi nào trong các khâu, các hình thái khác nhau đó của VLĐ sẽ dẫn tới sự ảnh hưởng nghiêm trọng của toàn bộ hệ thống. Thiếu VLĐ mua nguyên liệu đầu vào thì khâu sản xuất bị tắc nghẽn, khâu lưu thông cũng không đủ sản phẩm để cung cấp cho khách hàng, DN nhanh chóng đứng trước nguy cơ khủng hoảng. Trong quá trình tham gia vào hoạt động SXKD, giá trị của VLĐ được chuyển dịch toàn bộ, một lần vào giá trị sản phẩm và là nhân tố chính tạo nên giá thành sản phẩm. Do đó, nếu VLĐ được sử dụng hiệu quả có thể giảm được chi phí và hạ giá thành sản phẩm, đồng thời làm tăng sức cạnh tranh cho DN.
Phân loại vốn lưu động Để sử dụng, quản lý VLĐ hiệu quả, các DN cần phải tiến hành phân loại VLĐ theo các tiêu thức khác nhau, phù hợp với từng yêu cầu quản lý.