Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu: Chương này sẽ tổng quan các công trình trong và ngoài nước liên quan đến đề tài, từ đó xác định khoảng trống. luan an 10 Chương 2: Cơ sở lý thuyết: Trình bày UET được sử dụng trong luận án. Lập luận việc sử dụng lý thuyết nền này, từ đó phát triển giả thuyết và xây dựng mô hình. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Trình bày khung, chiến lược, phương pháp luận và PPNC sử dụng, xây dựng thang đo, trình bày thiết kế; phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu, trình bày kết quả sơ bộ.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày các kết quả nghiên cứu chính của luận án. Chương 5: Kết luận và hàm ý: Chương này sẽ tổng hợp các khám phá có ý nghĩa, hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo. Cuối cùng, là các công trình có liên quan đến đề tài của tác giả đã được công bố và các phụ lục liên quan. luan an 11 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu nước ngoài.
Ở chương này, tác giả tổng quan các công trình theo các lý thuyết nền liên quan đến MAS; đặc điểm NQT cấp cao. Sau đó, theo các biến trong mô hình (như chiến lược thăm dò, hiệu quả tài chính và ILOC). Đã có nhiều nghiên cứu về MAS nói riêng, hệ thống kiểm soát và quản trị nói chung dựa trên các góc nhìn khác nhau. Trong số đó, hai góc nhìn chính là từ lý thuyết bất định và UET sẽ được tác giả trình bày trong chương này.
Ngoài ra, tác giả cũng trình bày một số góc nhìn khác có liên quan để xác định khoảng trống có căn cứ, đầy đủ và khoa học (Xem Phụ lục 1).1 Đặc điểm của nhà quản trị cấp cao liên quan đến hệ thống kế toán quản trị.1 Các nghiên cứu về đặc điểm bên trong, bên ngoài tổ chức và hệ thống kế toán quản trị dựa trên lý thuyết bất định. Việc nhà quản trị sử dụng thông tin MAS dựa trên nền tảng lý thuyết bất định đã được thực hiện từ lâu (Chenhall & Morris, 1986). Luận án này đang xem xét MAS trên cả bốn khía cạnh, cho nên phần tổng quan trong luận án sẽ có các đặc điểm trên. Ban đầu, việc xem xét MAS trên các khía cạnh khác nhau, như thiết kế MAS, sự hữu ích của thông tin MAS, hành vi sử dụng thông tin MAS của NQT.
Liên quan đến thiết kế MAS, các học giả cho rằng các nhân tố thuộc về bối cảnh bên ngoài như nhận thức môi trường không ổn định (PEU), Đơn vị kinh doanh chiến lược (SBU), Phân quyền trong tổ chức (DEC), cơ cấu tổ chức (Chong & Chong, 1997; Naranjo-Gil & Rinsum, 2006; Ajibolade & Cộng sự, 2010) có tác động đến việc thiết kế MAS. Ngoài ra, các nhân tố liên quan đến nhận thức về sự hữu ích của MAS cũng đã được quan tâm (Chenhall & Morris, 1986; Mia & Goyal, 1991; Soobaroyen & Poorundersing, 2008). Bên cạnh đó, hành vi sử dụng thông tin MAS cũng bị ảnh hưởng bởi đặc điểm tôn giáo của NQT (Rasid & Cộng sự, 2011) hoặc luan an 12 bị ảnh hưởng bởi nhận thức về hành vi không ổn định của môi trường (Agbejule, 2005). Các nghiên cứu trên đều quan tâm đến MAS trên cả bốn khía cạnh và đa số ở các nước phát triển, như Úc (Chenhall & Morris, 1986; Chong & Chong, 1997); New Zeland (Mia & Goyal, 1991), hoặc Tây Ban Nha (Naranjo-Gil & Rinsum, 2006) và Phần Lan (Agbejule, 2005).
Ngược lại, tại các nước đang phát triển thì khá hạn chế (Bangchokdee & Cộng sự, 2011; Vo & Nguyen, 2020a). Nhiều nghiên cứu đã xem xét nhiều nhân tố thuộc các bối cảnh khác nhau tác động đến hành vi sử dụng thông tin MAS như: nhiệm vụ không ổn định, tầm hạn kiểm soát (Span of control) (Mia & Goyal, 1991; Soobaroyen & Poorundersing, 2008), nhận thức môi trường không ổn định (Agbejule, 2005), chiến lược (Bangchokdee, 2011; Chong & Chong, 1997; Bouwens & Abernethy, 2000; Heidmann & Cộng sự, 2008), cơ cấu phân quyền trong tổ chức (Chia, 1995; Soobaroyen & Poorundersing, 2008), vòng đời sản phẩm (Bangchokdee, 2011), phong cách lãnh đạo và hình thức sở hữu (Naranjo-Gil & Rinsum, 2006), tôn giáo của NQT (Rasid & Cộng sự, 2011), vốn tri thức của NQT (Novas, Sousa & Alves, 2012), thị trường cạnh tranh (Ghasemi và cộng sự, 2016), áp dụng hệ thống sản xuất tích hợp (Ismail và cộng sự, 2018); sự hiệu quả của các trung tâm trách nhiệm (Drobyazko và cộng sự, 2019). Như vậy, từ các nội dung trên cho thấy rằng, các nghiên cứu về MAS đã quan tâm đến các nhân tố khác nhau cả trong và ngoài tổ chức. Nhiều nghiên cứu đã quan tâm đến hành vi sử dụng thông tin MAS của NQT nhưng đã bỏ quên các đặc điểm của chính NQT cấp cao có ảnh hưởng đến hành vi nói chung, hành vi sử dụng thông tin được cung cấp bởi MAS (Vo & Nguyen, 2020a; 2020b).
Theo Hambrick & Mason (1984) thì hành vi của NQT cấp cao bị ảnh hưởng bởi chính các đặc điểm của họ như: nhân khẩu học (ví dụ: tuổi, nền tảng học vấn, kinh nghiệm, nhiệm kỳ,…) hoặc tâm lý. Do đó, cách tiếp cận dựa vào UET của Hambrick & Mason (1984) đề xướng còn nhiều khoảng trống và nên được sử dụng để xem xét các nhân tố thuộc đặc điểm NQT cấp cao ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thông tin MAS. Tuy nhiên, hiện tại ở VN vẫn chưa được quan tâm nhiều (Vo & Nguyen, 2020a; luan an 13 2020b; Nguyen & cộng sự, 2014; Nguyen & Cộng sự, 2017; Nguyen, 2018).2 Các nghiên cứu về đặc điểm của nhà quản trị cấp cao và hệ thống kế toán quản trị dựa trên lý thuyết cấp bậc quản trị cao. Gần đây trong lĩnh vực MA đã bắt đầu dựa vào UET để tìm hiểu MQH giữa các đặc điểm của NQT cấp cao và MAS cũng như các MCS (Hiebl, 2014; 2017; Zor & cộng sự, 2018).
Một MAS nói riêng và MCS nói chung được xem là kết quả đầu ra của một tổ chức hoặc được xem như một khía cạnh thuộc về cơ cấu tổ chức – nó thể hiện một hệ thống hành chính phức tạp (Chenhall, 2003; Strauß & Zecher, 2013; Chenhall & Morris, 1986). Và theo lý thuyết cấp bậc quản trị cao (UET - Upper Echelons Theory) thì MAS được kỳ vọng là bị ảnh hưởng bởi đặc điểm NQT cấp cao. Sau đây, tác giả xin nêu ra một số nghiên cứu tiêu biểu đã sử dụng UET trong lĩnh vực kế toán nói chung và MA nói riêng.1 Các nghiên cứu về đặc điểm nhân khẩu học của nhà quản trị cấp cao và hệ thống kế toán quản trị. Trong mảng MA, đối tượng NQT cấp cao được nghiên cứu khi dựa trên UET rất đa dạng.
Trong đó, một số nghiên cứu khảo sát tác động của đặc điểm nhóm NQT cấp cao (Naranjo-Gil & Hartmann, 2006, 2007b; Lester & Cộng sự, 2006; Kyj & Parker, 2008; Speckbacher & Wentges, 2012; Lee & Cộng sự, 2013; Naranjo-Gil, 2015). Một số nghiên cứu nổi bật xem xét đặc điểm của cá nhân NQT cấp cao (gồm CEO và/hoặc CFO) tới MCS hoặc MAS (Naranjo-Gil & Hartmann, 2007a; Naranjo-Gil & Cộng sự, 2009; Pavlatos, 2012; Abernethy & Cộng sự, 2010; Burkert & Lueg, 2013; Laitinen, 2014; Hiebl & Cộng sự, 2017; Zor & Cộng sự, 2018; Kalkhouran & Cộng sự, 2015; Kalkhouran & Cộng sự, 2017; Ojeka & Cộng sự, 2019) và một số bài báo đã khảo sát đặc điểm của đồng thời hai NQT cấp cao (CEO, CFO) và toàn bộ nhóm NQT cấp cao cũng như đặc điểm của giám đốc công nghệ thông tin (Lee & Cộng sự, 2013) và khảo sát đồng thời hai NQT cấp cao (CEO, CFO) và Giám đốc Marketing (Pavlatos & Kostakis, 2018). Đặc biệt, mặc dù sử dụng UET nhưng có hai bài báo nổi bật đã xem xét đặc điểm kiến thức và phong cách lãnh đạo của NQT cấp cao lẫn cấp trung tác động đến hệ thống kiểm soát và kế luan an 14 toán quản trị (Hartmann & Cộng sự, 2010; Elbashir & Cộng sự. 2011), mặc dù NQT cấp trung không thỏa mãn điều kiện do Hambrick & Mason (1984) đề ra.
Một điều thú vị, cả năm bài báo của các đồng tác giả (Naranjo-Gil & Hartmann 2006, 2007a,b; Naranjo-Gil & Cộng sự, 2009; Naranjo-Gil, 2015) có mẫu đều khảo sát tại các bệnh viện ở Tây Ban Nha. Một số nghiên cứu đã điều tra MQH giữa các đặc điểm của nhóm NQT cấp cao và hệ thống kế toán và kiểm soát quản trị. Mặc dù không đề cập rõ ràng đến UET, Speckbacher và Wentges (2012) đã nói lên một đặc điểm trong nhóm NQT cấp cao, đó là đặc điểm thành viên gia đình trong nhóm này. Họ đưa ra bằng chứng rằng, hệ thống đo lường hiệu quả trong việc thiết lập chiến lược mục tiêu và khen thưởng bị ảnh hưởng bởi số thành viên gia đình trong nhóm NQT cấp cao và bị điều tiết bởi quy mô tổ chức.
Speckbacher và Wentges (2012) cho rằng kết quả này là do các thành viên trong gia đình có thể dựa nhiều hơn vào mạng xã hội, hiểu biết ngầm và các phương thức kiểm soát quản trị không chính thức, và ngược lại. Kyj và Parker (2008) đã chỉ ra rằng NQT cấp cao khuyến khích nhân viên cấp dưới tham gia lập dự toán vì mục tiêu dự toán được sử dụng trong đánh giá hiệu quả của cấp dưới. Hơn nữa, họ cho thấy rằng sự khuyến khích của các nhà quản trị cấp cao cũng dẫn đến sự tham gia của các cấp dưới nhiều hơn trong quá trình lập dự toán. Trong một nghiên cứu khác sử dụng mẫu bệnh viện Tây Ban Nha, Naranjo-Gil và Hartmann (2006) chỉ ra các nhóm NQT cấp cao có nhiều thành viên định hướng hành chính (trái ngược nền tảng học vấn kỹ thuật như ví dụ: học vấn về y học…) thì việc sử dụng thông tin kế toán theo phương pháp chẩn đoán nhiều hơn (trái ngược với sử dụng tương tác) và dựa nhiều vào tài chính hơn là thông tin phi tài chính.
Lester & Cộng sự (2006) cho thấy đặc điểm uy tín của nhóm NQT cấp cao và môi trường không ổn định ảnh hưởng đến giá trị đầu tư của các công ty IPO. Trong một phân tích về tính không đồng nhất của nhóm NQT cấp cao (về độ tuổi, nhiệm kỳ, kinh nghiệm và giáo dục), Naranjo-Gil và Hartmann (2007b) đã đưa ra bằng chứng cho thấy MAS (thông tin phạm vi rộng và phong cách sử dụng MAS tương tác) là biến trung gian giữa tính đồng nhất của nhóm NQT cấp cao và thay đổi chiến lược. luan an 15 Cụ thể, tính đồng nhất của nhóm NQT cấp cao có tác động tích cực trực tiếp đến thay đổi chiến lược và thông tin MAS.