CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu ngoài nước Bài nghiên cứu trong tạp chí Accounting & Organizational Change, tác giả Kihn và các cộng sự đã phân loại nghiên cứu kế toán quản trị thành ba nhóm nghiên cứu chính: (1) Kiểm soát (management control), (2) Chi phí (cost accounting) và (3) Các chủ đề kế toán quản trị khác như việc ra quyết định, khả năng sinh lời, thông tin kế toán, hệ thống thông tin kế toán, thay đổi kế toán quản trị và và kế toán quản trị chiến lược được (Kihn, Lili-Anne, Näsi, & Salme, 2017). Trong số đó, Kihn đã đánh giá các nghiên cứu có xu hướng dành mối quan tâm đến nhóm chủ đề thứ ba “(3)”. Thay đổi kế toán quản trị đã thu hút sự chú ý của rất nhiều nhà nghiên cứu (Cinquini & Tenucci, 2010; Langfield-smith, 1997; Lay & Jusoh, 2012; Ma & Tayles, 2009; Nixon, 2012; Nyamori, Perera, & Lawrence, 2001; Obohn & Ajibolade, 2017; D.
Smith & Langfield-smith, 2008; M. Sự quan tâm ngày càng tăng trong nghiên cứu quốc tế về chiến lược trong kế toán quản trị và còn nhiều quan điểm trái chiều (Kihn et al. Theo hướng kế toán quản trị chiến lược, Simmonds đưa ra nhận định kế toán quản trị cung cấp và phân tích thông tin về doanh nghiệp, đối thủ cạnh tranh để sử dụng trong việc phát triển và giám sát chiến lược. Simmonds khuyến nghị các kế toán quản trị thay đổi định hướng của mình để cung cấp thông tin có giá trị lớn nhất cho doanh nghiệp (Simmonds, 1981).
Tuy nhiên, kế toán quản trị chiến lược được đánh giá chưa đủ điều kiện áp dụng cho số đông doanh nghiệp Việt Nam khi nó chỉ mới ở vạch xuất phát (Đoàn Ngọc Quế & Trịnh Thiện Hiệp, 2014). Trên tạp chí Management Accounting Research, nhóm tác giả Atkinson và cộng sự gợi ý 3 hướng nghiên cứu kế toán quản trị trong nhóm chủ đề kế toán quản trị khác (Atkinson, A, Ramji, Peter, & M, 1997): (1) Vai trò của kế toán quản trị trong thay đổi tổ chức; (2) Sự tương tác giữa kế toán và cơ cấu tổ chức; (3) Vai trò 7 của thông tin kế toán trong việc hỗ trợ ra quyết định. Tác giả chú ý đến xu hướng nghiên cứu vai trò của thông tin kế toán quản trị hỗ trợ ra quyết định. Nghiên cứu về thông tin kế toán và việc ra quyết định chiến lược đã được nghiên cứu bởi William J.
Bruns với công trình “Thông tin kế toán và việc ra quyết định: Một số giả thuyết hành vi” (Bruns, 1968). Ông đưa ra 4 giả thuyết lý thuyết đánh giá tác động của thông tin kế toán về quyết định cần được khám phá thêm. Từ đó, các nghiên cứu về kế toán quản trị và chiến lược kinh doanh có thể tìm thấy trong các tài liệu rất đa dạng và tập trung vào nhiều khía cạnh khác nhau của kế toán và chiến lược. Tổng quan các nghiên cứu quốc tế trình bày sau đây được tóm tắt ở phần phụ lục Bảng 1.
Tác giả người Anh David T.Otley bàn về “Lý thuyết bất định với kế toán quản trị: quá trình và thành tựu đạt được” (D. Ông đã khảo sát sự phát triển và nội dung của lý thuyết bất định trong kế toán quản trị và đưa ra lập luận rằng nghiên cứu thông tin kế toán không thể tách biệt bối cảnh. Một bài viết khác trong tạp chí học thuật về quản trị tạm dịch là “Chiến lược đơn vị kinh doanh, đặc điểm quản trị và hiệu quả của đơn vị kinh doanh khi thực hiện chiến lược” (Gordon & Narayanan, 1984), các tác giả đã tiến hành cuộc phỏng vấn với các nhà quản trị cấp cao từ 34 công ty của Hoa Kỳ. Nghiên cứu này liên quan đến mối quan hệ giữa nhận thức môi trường không chắc chắn, cấu trúc và hệ thống thông tin kế toán quản trị của một tổ chức.
Gordon và Narayanan theo quan điểm bất định, lập luận rằng các hệ thống thông tin được xem là tạo điều kiện thuận lợi cho việc ra quyết định trong các tổ chức nên nó được thiết kế phù hợp với môi trường và cấu trúc của tổ chức. Nhưng sau khi kiểm soát tác động của môi trường, mối quan hệ giữa hệ thống thông tin của tổ chức và cấu trúc không còn quan trọng nữa. Khi các nhà quản trị ra quyết định nhận thấy không chắc chắn về môi trường, họ có khuynh hướng tìm kiếm thông tin bên ngoài, đó là những thông tin phi tài chính và thông tin cũ. Chenhall và Deigan Morris xem xét ảnh hưởng của phân cấp cơ cấu, sự không chắc chắn về môi trường và sự phụ thuộc lẫn nhau của tổ chức vào thiết kế hệ thống kế toán quản trị trong bài “Tác động của cấu trúc, môi trường và sự phụ thuộc lẫn nhau đến tính hữu dụng nhận thức của hệ thống kế toán quản trị” (Chenhall & Morris, 1986).
Khung phân tích: MAS theo một số đặc điểm phổ biến bao gồm phạm vi, tính kịp thời, mức độ tổng hợp, thông tin về cách thức hoạt động tích hợp; mối quan hệ giữa nhận thức của người quản lý về tính hữu ích của các đặc điểm MAS. Các phát hiện cho thấy rằng phân cấp được liên kết với một ưu tiên cho thông tin tổng hợp và tích hợp; nhận thức được sự không chắc chắn về môi trường với phạm vi rộng và thông tin kịp thời; sự phụ thuộc lẫn nhau của tổ chức với phạm vi rộng, tổng hợp và thông tin tích hợp. Cũng theo quan điểm bất định, Ferdinand A. Gul và Yew Ming Chia viết “Tác động của MAS, sự không chắc chắn về môi trường và sự phân cấp đối với hiệu suất quản lý: một thử nghiệm về tương tác lẫn nhau” (Gul & Chia, 1994).
Kết quả khảo sát 48 nhà quản trị Singapore về nhận thức môi trường không chắc chắn, sự phân cấp và thiết kế hệ thống thông tin kế toán quản trị có tác động đến kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống thông tin dựa trên đặc điểm phạm vi rộng và tích hợp. Hạn chế của nghiên cứu đều nằm ở kích thước mẫu. Nghiên cứu ở Phần Lan “Mối quan hệ giữa sử dụng MAS và sự không chắc chắn về môi trường đối với kết quả hoạt động kinh doanh: Một lưu ý nghiên cứu” (Agbejule, 2005), Adebayo Agbejule đã khảo sát 69 nhà quản trị.
Lý thuyết bất định và lý thuyết hợp đồng (contracting theory) biện luận sự biến thiên giữa ba khái niệm đề cập. Trong khi các nghiên cứu trước đó về MAS tập trung vào các đặc tính thông tin nhất định thì nghiên cứu này xem xét sự kết hợp các khía cạnh của MAS. Nghiên cứu này cho thấy mức nhận thức môi trường không chắc chắn càng cao thì mối quan hệ giữa việc sử dụng MAS và kết quả hoạt động kinh doanh càng tích cực hơn. Các kết quả ủng hộ Gul và Chia (1994) nhưng mở rộng khía cạnh MAS là kịp thời và đồng bộ.
Gợi ý rằng thông tin phạm vi rộng cung cấp nhiều thông tin định 9 tính và định lượng, tài chính và phi tài chính là rất quan trọng đối với các nhà quản trị trong việc đưa ra quyết định trong các điều kiện môi trường nhận thức và được yêu cầu dưới nhiều hình thức khác nhau. Agbejule và cộng sự (Agbejule, Adebayo, & Burrowes, 2007) khảo sát 120 công ty Phần Lan, mức độ nhận thức môi trường không chắc chắn cao thì việc sử dụng MAS nhiều hơn. Lokman Mia cùng Brian Clarkef nghiên cứu “Cạnh tranh thị trường, MAS và kết quả hoạt động kinh doanh” (Mia & Clarke, 1999) đã giải thích mối quan hệ giữa cường độ cạnh tranh thị trường và kết quả hoạt động kinh doanh với biến trung gian là nhà quản trị sử dụng MAS. Kết quả phỏng vấn 61 nhà quản trị cho thấy rằng cường độ cạnh tranh thị trường là yếu tố quyết định việc sử dụng thông tin và quyết định kết quả hoạt động kinh doanh.
Johnny Jermias và Lindawati Gani khám phá “Kết hợp chiến lược kinh doanh, cấu hình tổ chức và hệ thống kế toán quản trị với kết quả hoạt động kinh doanh: cách tiếp cận tổng quát” (Jermias & Gani, 2004) nghiên cứu mối quan hệ giữa chiến lược dẫn đầu chi phí, chiến lược khác biệt, cấu hình tổ chức, MAS và hiệu quả của đơn vị kinh doanh. Mỗi biến ngữ cảnh, sẽ có mối liên hệ tích cực với hiệu quả đơn vị kinh doanh. Dựa trên một cuộc khảo sát qua thư và phỏng vấn cá nhân của 106 người quản trị đơn vị kinh doanh của các công ty được niêm yết công khai trong ngành hàng tiêu dùng. Các ưu tiên chiến lược ảnh hưởng đến các loại kiểm soát và MAS được sử dụng bởi các đơn vị kinh doanh.
Ông cũng gợi ý thêm các biến khác như kích thước, công nghệ và phong cách lãnh đạo cũng có thể đóng vai trò quan trọng đối với hiệu suất của đơn vị kinh doanh. Hạn chế là nghiên cứu áp dụng cho một ngành nên lưu ý cho các ngành khác. Alnoor Bhimani và Kim Langfield-Smit bàn về “Cấu trúc, hình thức và tầm quan trọng của thông tin tài chính và phi tài chính trong xây dựng và thực hiện chiến lược” (Bhimani & Langfield-smith, 2007). Đây là nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp.
Kết quả là sự cân bằng giữa thông tin tài chính và phi tài chính phổ biến hơn trong phát triển chiến lược hơn là trong quá 10 trình triển khai. Các công ty được khảo sát xem thông tin tài chính cho chiến lược quan trọng hơn hệ thống thông tin kế toán quản trị. Nhóm nghiên cứu của Devie Petra Christian tìm hiểu “Áp dụng các khái niệm kế toán tại nơi làm việc: một nghiên cứu về kế toán quản trị ở Surabaya, Indonesia” (Devie, Tarigan & Kunto, 2008) dựa vào Thuyết quản lý (Theory of Management) cho rằng cấp độ chiến lược sẽ tiếp tục sử dụng nhiều kỹ năng khái niệm so với cấp độ hoạt động. Mức độ sử dụng thể hiện chỉ số sử dụng để đánh giá vai trò của kế toán quản trị ở cấp chiến lược và cấp độ hoạt động, từ đó, thể hiện vai trò kế toán trong tổ chức.
Một nhánh nghiên cứu khác, Simon Cadez và Chris Guilding với bài “Một cuộc điều tra thăm dò mô hình theo thuyết bất định của SMA” (Cadez & Guilding, 2008) xem xét hiệu quả của các lựa chọn chiến lược, định hướng thị trường và quy mô công ty đến vai trò và kỹ thuật kế toán quản trị chiến lược. Các tác giả sử dụng mô hình phương trình cấu trúc và dữ liệu được thu thập từ một mẫu của 193 công ty lớn ở Slovenia. Phát hiện dữ liệu định lượng đã được đánh giá bằng cách sử dụng dữ liệu định tính thu thập được trong mười thăm dò phỏng vấn.