Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan các lý thuyết và kết quả nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Chương 5: Kết luận 123doc 8 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KẾT QUẢ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Nắm giữ tiền mặt là một chủ đề không quá mới mẻ trong các nghiên cứu về doanh nghiệp. Nhiều nghiên cứu cho rằng doanh nghiệp có nhiều động cơ nắm giữ tiền mặt, có thể là do các điều kiện quản lý doanh nghiệp, hạn chế tài chính hay do tài trợ bên ngoài tốn kém. Ngoài ra, một số nghiên cứu cũng đã chứng minh mối quan hệ giữa việc nắm giữ tiền mặt đối với hiệu quả hoạt động và giá trị doanh nghiệp. Nội dung của phần này sẽ trình bày lại các lý thuyết cũng như kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhiều tác giả nhằm làm cơ sở cho đề tài và cũng giúp cho chúng ta có cái nhìn khái quát về việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp và những tác động của nó đối với hiệu quả hoạt động và giá trị của doanh nghiệp.
Tổng quan lý thuyết: 2. Động cơ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp: Lượng tiền mặt nắm giữ đóng vai trò rất quan trọng với một doanh nghiệp vì nó cung cấp khả năng thanh toán bằng tiền mặt của doanh nghiệp. Lượng tiền mặt công ty nắm giữ được hiểu là tiền mặt và các khoản tương đương tiền như tiền gửi ngân hàng, các chứng khoán, trái phiếu ngắn hạn có khả năng quy đổi thành tiền nhanh (Ferreira & Vilela, 2004) (Opler, Pinkowitz, Stulz, & William, 1999) (Bates, Kahle, & Stulze, 2009). Việc nắm giữ tiền mặt có những thuận lợi nhất định.
Theo Chen và Chuang (2009), các công ty có xu hướng nắm giữ nhiều tiền mặt nhằm giảm chi phí giao dịch và ngăn chặn các tổn thất cho việc đầu tư kém do thiếu nguồn quỹ để thực hiện. Mỗi doanh nghiệp có những lý do rất khác nhau để nắm giữ tiền mặt, và theo các nghiên cứu trước đây thì có 4 động cơ chính như sau để một doanh nghiệp nắm giữ tiền: - Động cơ giao dịch: Vì tiền là phương tiện trao đổi nên các doanh nghiệp cần có tiền để tiến hành các giao dịch hằng ngày, Doanh nghiệp cần tiền mặt để chi trả cho các hoạt động kinh doanh của mình (Opler và các cộng sự, 1999), (Damodaran, 2008), (Bates và các cộng sự, 2009), (Custodio, Ferreira, và Raposo, 2005). Tuy nhiên, nhu cầu tiền mặt tại các doanh nghiệp thì không giống nhau. Các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành sản xuất phần mềm và dịch vụ, giải trí và truyền thống thường không bị đòi hỏi về chi tiêu vốn nhiều như các công ty trong các ngành thâm dụng vốn như các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp nặng, sản xuất đòi hỏi phải đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, dây chuyền và nguyên vật liệu sản xuất (Custodio, Ferreira, và Raposo, 2005).
- Động cơ dự phòng: Ngoài việc giữ tiền để tiến hành các giao dịch hàng ngày, các doanh nghiệp còn có nhu cầu dự trữ tiền cho các nhu cầu chi tiêu bất ngờ trong tương lai. Theo Ferreira và Vilela và Raposo (2004) thì doanh nghiệp nắm giữ tiền mặt để tài trợ cho các hoạt động tài chính hay đầu tư khi các nguồn lực tài chính không có sẵn hoặc có chi phí rất cao. Mỗi doanh nghiệp sẽ có nhu cầu nắm 123doc 10 giữ tiền mặt cho mục tiêu dự phòng khác nhau tùy theo từng tình huống khác nhau. Trong nền kinh tế không ổn định, các doanh nghiệp nên nắm giữ nhiều tiền mặt hơn để đảm bảo có đủ khả năng chi trả khi cần thiết.
Và theo nghiên cứu của Damodaran, 2008 thì các doanh nghiệp trong một nền kinh tế có nhiều cú sốc thì có xu hướng nắm giữ nhiều tiền mặt. Chi phí của việc nắm giữ tiền mặt chủ yếu là chi phí cơ hội của vốn được đầu tư vào các loại tài sản có tính thanh khoản cao (Custodio, Ferreira, Raposo, 2005). - Động cơ đại diện: Các nhà quản lý có thể quyết định công ty sẽ giữ lại tiền mặt hay chi trả cổ tức cho các cổ đông.Các nhà quản lý muốn giữ tiền mặt hơn là chia nó cho các cổ đông (Jesen, 1986). Các nhà quản lý có thể gia tăng các khoản quỹ để nắm giữ tiền mặt.
Một số nghiên cứu thực nghiệm đã kiểm chứng rằng các doanh nghiệp nắm giữ nhiều tiền mặt thì có xu hướng tiêu nhiều tiền để tiến hành nhiều phi vụ thâu tóm các công ty khác ( Harford, 1999). Hơn thế nữa, nghiên cứu của Blanchard và cộng sự (1994) đã tìm thấy các dẫn chứng cho thấy các doanh nhiệp trong một thời gian không chi trả cổ tức cho cổ đông, nếu họ không đầu tư vào các phi vụ thâu tóm thì cũng đầu tư tiền mặt dàn trải vào nhiều hoạt động khác, thậm chí là bất kể tỷ suất sinh lợi của các khoản đầu tư này. Và các cổ đông cũng có thể gây sức ép đối với các nhà quản lý để tránh việc đầu tư tiền mặt dàn trải và không hiệu quả bằng cách yêu cầu họ thanh toán các nghĩa vụ nợ, chi phí lãi vay hay các khoản nợ lớn thay vì sử dụng tiền mặt để mua cổ phiếu quỹ (Jensen, 1986) - Động cơ tín hiệu: Do có sự bất cân xứng thông tin giữa những nhà quản lý và các cổ đông nên các nhà quản lý sẽ phát một tín hiệu về triển vọng của công ty đối với các nhà đầu tư thông qua chính sách chi trả cổ tức của họ. Các nhà quản lý có xu hướng thực hiện động tác giả chi trả các khoản lãi vay và do đó sẽ giữ lại tiền mặt trong bối cảnh triển vọng của công ty đang tốt để có thể chi trả cổ tức trong giai đoạn khó khăn của công ty nhằm để phát tín hiệu tốt đánh lừa nhà đầu tư (Al-Najjar & Belghitar, 2011).
Và theo Harford và các đồng nghiệp (2008) thì việc chi trả cổ tức có tín hiệu tín cực hơn là việc doanh nghiệp mua cổ phiếu quỹ bằng tiền mặt bởi lẽ chi trả cổ tức phát một tín hiệu của một cam kết rằng cổ tức sẽ có thể được trả 123doc 11 nhiều hơn trong tương lai, trong khi đó, mua lại cổ phiếu quỹ được xem là một sự kiện của năm nay, không được tiếp diễn trong năm tới. Với hai động cơ đầu thì sẽ được giải thích cụ thể hơn với lý thuyết đánh đổi và lý thuyết trật tự phân hạng trong nội dung bài đề tài. Lý thuyết đánh đổi: Phần trên đã cho chúng ta cái nhìn toàn vẹn về các động cơ nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. Và phần này sẽ đi sâu về ba lý thuyết chính để phân tích cơ sở lý luận của việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó tìm ra các biến có tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp cho phần sau. Doanh nghiệp có thể tài trợ bằng cách vay nợ hay giữ lại tiền mặt, và dù bằng cách nào thì chúng đều có mặt lợi và chi phí của nó. Với lý thuyết đánh đổi, hay còn gọi là mô hình chi phí giao dịch của Opler và cộng sự (1999) thì doanh nghiệp có thể xác định một mức nắm giữ tiền mặt bằng cách cân bằng chi phí biên của việc nắm giữ tài sản có tính thanh khoản cao và lợi nhuận biên của việc nắm giữ tiền mặt. Lợi nhuận biên của việc nắm giữ tiền mặt sẽ làm giảm khả năng kiệt quệ tài chính, cho phép doanh nghiệp thực hiện đầu tư tối ưu, tránh các chi phí phát sinh của việc tài trợ từ bên ngoài hay thanh lý các tài sản của doanh nghiệp.
Bởi vì doanh nghiệp hoạt động trong một thị trường không hoàn hảo (chủ yếu là do bất cân xứng thông tin) nên doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận thị trường vốn hoặc chịu nhiều chi phí của việc tài trợ từ bên ngoài. Chi phí biên của việc nắm giữ tiền mặt là chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền mặt khi nó mang lại ít lợi ích hơn là thực hiện đầu tư trong một điều kiện rủi ro ngang nhau (Opler và cộng sự, 1999) (Ferreira & Vilela, 2004). Doanh nghiệp cần tiền mặt để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của họ, do đó họ cần nguồn tài trợ bên ngoài từ thị trường vốn hoặc sẽ thanh lý tài sản. Do thị trường vốn là không hoàn hảo nên chi phí giao dịch có thể được tránh bằng cách nắm giữ một mức tối ưu tiền mặt.
Lý thuyết trật tự phân hạng: Lý thuyết trật tự phân hạng của Myers và Majluf (1984) cho rằng các nhà quản lý có thể quyết định thứ tự tài trợ vốn sao cho giảm tối thiểu chi phí bất cân xứng thông tin và các chi phí tài chính khác. Lý thuyết này có hàm ý rằng các doanh nghiệp thích tài trợ nội bộ hơn. Các giám đốc điều chỉnh tỷ lệ chi trả cổ tức để tránh việc bán cổ phần thường ra bên ngoài nhằm tránh các thay đổi lớn trong số lượng cổ phần. Nếu có tài trợ từ bên ngoài, Myers cho rằng các chứng khoán an toàn nhất nên được phát hành trước.
Cụ thể nợ thường là chứng khoán đầu tiên được phát hành và vốn cổ phần bán ra bên ngoài là giải pháp cuối cùng. Tuy nhiên Myers và Majluf cũng cho rằng sẽ không có một mức độ nắm giữ tiền mặt nào tối ưu, nhưng việc nắm giữ tiền mặt nên đóng vai trò là vật đệm giữa việc giữ lại lợi nhuận và các nhu cầu đầu tư. Lý thuyết Dòng tiền mặt tự do: Lý thuyết Dòng tiền mặt tự do cho rằng các nhà quản lý nắm giữ tiền mặt để phục vụ cho lợi ích của họ, do đó gia tăng mâu thuẫn giữa nhà đầu tư và những người quản lý công ty. Lý thuyết Dòng tiền mặt tự do còn nêu bật lên chi phí đại diện trong nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp.
Những công ty với cơ hội tăng trưởng cao thì có chi phí đại diện cao, do đó, để chủ động trong nguồn vốn, họ sẽ có khuynh hướng dự trữ thêm tiền mặt. Nếu có xung đột giữa ban quản trị và cổ đông, ban quản trị có khuynh hướng dự trữ càng nhiều tiền mặt nếu có thể để theo đuổi mục tiêu của họ. Tiền mặt có thể được chi trả cho lợi nhuận, nhưng cũng có thể cho những dự án mà nhà đầu tư không sẵn sàng huy động vốn nữa. Hơn nữa, ban quản trị cũng có thể nắm giữ tiền mặt bởi vì không thích rủi ro.