Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận 2 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ giữa các nhân tố (ĐBTC, Khả năng sinh lời, Nợ vay ngắn hạn, Quy mô doanh nghiệp và Quy mô HĐQT) và CLLN. Phạm vi nghiên cứu: + Về không gian: 335 doanh nghiệp đang hoạt động niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán HOSE + Về thời gian: Dữ liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2016 đến 2021. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Chất lượng lợi nhuận (CLLN) CLLN đề cập đến mức độ liên quan của lợi nhuận trong việc đo lường hiệu suất của công ty (Francis & cộng sự, 2004). CLLN là một nhân tố quan trọng để đánh giá sức khỏe tài chính của một doanh nghiệp (Bellovary và công sự, 2005). Krishnan và cộng sự (2008) lại cho rằng CLLN là khả năng mà lợi nhuận được báo cáo phản ánh thực tế tình hình nền kinh tế, để đánh giá một cách hợp lý kết quả tài chính của một doanh nghiệp. CLLN là một thước đo, chuẩn mực để đo lường hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
CLLN càng cao thì hiệu suất của công ty càng cao (Dechow và Schand, 2004). Nó bổ sung thêm thông tin về các điều kiện thực hiện để công ty đưa ra quyết định cụ thể của những người liên quan (Dechow và cộng sự, 2011). CLLN cao sẽ đưa ra phản ánh tích cực để dự báo và đánh giá hiệu quả (Radzi và cộng sự, 2011). CLLN là "mức độ lợi nhuận thuần được báo cáo trên báo cáo kết quả kinh doanh khác với lợi nhuận thực" (Pratt, 2003).
CLLN đề cập đến mức độ phản ánh của lợi nhuận được báo cáo với thu nhập thực sự của công ty, cũng như tính hữu ích của lợi nhuận được báo cáo để dự đoán lợi nhuận của doanh nghiệp trong tương lai. CLLN cũng đề cập đến sự ổn định, nhất quán và ít biến động trong lợi nhuận được ghi nhận (Bellovary và công sự, 2005). Mohammady (2010) cho rằng CLLN là mức độ mà lợi nhuận báo cáo phản ánh bản chất trong hoạt động của công ty hay mức độ chênh lệch giữa lợi nhuận được ghi nhận trong báo cáo và lợi nhuận thực sự của công ty. Francis và cộng sự (2004) cho rằng CLLN phụ thuộc vào yếu tố rủi ro kinh doanh cũng như sự lựa chọn và sử dụng chế độ kế toán của công ty.
Trong đó, rủi ro kinh doanh tác động của các yếu tố mang tính chu kỳ và các yếu tố khác đến mức lợi nhuận, sự ổn định, nguồn gốc và sự thay đổi của lợi nhuận. Doanh nghiệp có thể giảm thiểu rủi ro kinh doanh bằng các chiến lược linh hoạt. CLLN của doanh nghiệp được đánh giá cao khi rủi ro kinh doanh càng thấp. Thêm vào đó, các nguyên tắc kế toán mà doanh nghiệp 4 áp dụng cũng ảnh hưởng nhiều đến CLLN.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn phương pháp xác định lợi nhuận theo hai cách: lạc quan hoặc thận trọng. Lợi nhuận được xác định theo phương thức thận trọng được đánh giá là có chất lượng cao hơn bởi vì khả năng lợi nhuận bị thổi phồng trong hiện tại và tương lai thấp hơn so với lợi nhuận được xác định theo phương pháp cách lạc quan (Watts, 2003). Theo Schipper và Vincent (2003), khi lợi nhuận phản ánh chính xác hiệu quả hoạt động trong dài hạn của công ty thì được đánh giá là CLLN cao; ngược lại, khi lợi nhuận bị thao túng thì chất lượng sẽ thấp hơn. Thao túng lợi nhuận là sự can thiệp có chủ đích của các nhà quản lý vào quá trình lập báo cáo tài chính nhằm đạt được lợi ích cho bản thân hoặc cho công ty (Schipper, 1999).
Theo Healy và Wahlen (1999), nhà quản lý có thể can thiệp vào chỉ tiêu lợi nhuận nhằm làm cho một số bên liên quan hiểu sai về hiệu quả kinh tế cơ bản của công ty. Do đó, doanh nghiệp có CLLN cao được kỳ vọng sẽ có tỷ số giá trên thu nhập (P/E) cao hơn so với doanh nghiệp có CLLN thấp. Cũng theo Healy và Wahlen (1999), có ba nhóm động cơ dẫn đến hành vi can thiệp vào chỉ tiêu lợi nhuận, bao gồm: (1) Các động cơ thị trường vốn: Khi báo cáo lợi nhuận giảm hoặc thua lỗ, các doanh nghiệp có xu hướng phải chấp nhận trả chi phí cao hơn; (2) Các động cơ trong ký kết hợp đồng: Do các điều khoản được quy định trong hợp đồng cần được thực hiện nếu doanh nghiệp không đạt được các những chỉ tiêu đã đề ra; (3) Các động cơ chống độc quyền hoặc quy định của chính phủ như tránh vượt quá các chỉ số thanh khoản đã được quy định hoặc mong muốn được cấp bảo hộ cao hơn từ nhập khẩu. Halaoua và cộng sự (2017) lại cho rằng doanh nghiệp có quy mô lớn có xu hướng thao túng lợi nhuận nhằm vượt ngưỡng nhiều hơn.
Thứ nhất, doanh nghiệp lớn phải chịu nhiều áp lực hơn. Thứ hai, các doanh nghiệp lớn dễ dàng hơn trong việc thuyết phục, giải thích với kiểm toán về các hành vi thao túng lợi nhuận. Thứ ba, doanh nghiệp lớn 5 có lượng tài sản ngắn hạn lớn tạo điều kiện sử dụng các phương pháp kế toán nhằm thao túng lợi nhuận. Cuối cùng, việc quản trị nội bộ phức tạp tại các công ty lớn là một nguyên nhân của thao túng lợi nhuận.
Ngoài ra, Halaoua và cộng sự (2017) còn chỉ ra rằng tăng trưởng cũng ảnh hưởng đến hành vi thao túng lợi nhuận nhằm vượt ngưỡng tại các doanh nghiệp Anh. Các doanh nghiệp tăng trưởng có động cơ thao túng lợi nhuận cao vì các nhà quản trị muốn truyền tải thông tin đến thị trường về khả năng duy trì tăng trưởng của doanh nghiệp. Đo lường CLLN Tùy thuộc vào từng nhu cầu, dữ liệu và mô hình định lượng mà các nhà nghiên cứu sẽ lựa chọn những thước đo CLLN khác nhau. Một số nghiên cứu đo lường CLLN bằng cách sử dụng yếu tố nhận thức của các nhà đầu tư về lợi nhuận.
Nghiên cứu của Francis và Schipper (1999), Bushman và cộng sự (2004) đã kiểm định mối liên hệ giữa giá trị của lợi nhuận và nhận thức nhà đầu tư bởi nhà đầu tư đưa ra phán đoán và quyết định dựa trên giá và tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu. Tuy nhiên, He và cộng sự (2017), Eliwa và cộng sự (2016) đo lường trực tiếp của CLLN bằng cách sử dụng dữ liệu kế toán. Francis và cộng sự (2004) chỉ ra có 7 thước đo CLLN và được phân thành hai loại là thước đo theo nguyên tắc kế toán hoặc dựa trên thị trường. Các thước đo CLLN dựa trên kế toán bao gồm chất lượng dồn tích, tính nhất quán, khả năng dự báo và tính ổn định.
Các thước đo này lấy lợi nhuận làm tham chiếu và được ước lượng bằng các dữ liệu kế toán. Mức độ liên quan đến giá trị, tính kịp thời và tính thận trọng là các chỉ tiêu dựa trên thị trường. Các thước đo này lấy tỷ suất sinh lợi hoặc giá làm cấu trúc tham chiếu và sử dụng cả dữ liệu kế toán và dữ liệu tỷ suất sinh lợi để ước lượng. Dechow và cộng sự (2011) cho rằng cần quan tâm đến 3 vấn đề: Đầu tiên, phụ thuộc vào mức độ hữu ích hay phù hợp cho việc ra quyết định.
Chất lượng của thông tin kế toán nói chung và lợi nhuận báo cáo nói riêng không nên chỉ bị mặc định trong việc định giá doanh nghiệp và giá trị cổ phiếu. Thứ hai, CLLN phụ thuộc vào khả năng phản 6 ánh thông tin về tình hình hoạt động thực của doanh nghiệp. Cuối cùng, CLLN sẽ bị tác động bởi cả đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp và chuẩn mực kế toán được áp dụng. Trong những năm gần đây đã có rất nhiều những nghiên cứu về CLLN của các chuyên gia tại Việt Nam.
Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng phát triển các mô hình để đo lường CLLN. Phạm Thị Bích Vân (2012) đã sử dụng mô hình hồi qua của Jones vì cácbiến trong mô hình phù hợp với đặc điểm của các doanh nghiệp trên sàn Chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh cũng như môi trường pháp lý về việc công bố thông tin ở Việt Nam. Nguyễn Thị Phương Hồng (2017) và Nguyễn Công Phương (2017) lại sử dụng mô hình Jones điều chỉnh để phân tích về hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp ở Việt Nam. Ngoài ra, nhuwxng bài nghiên cứu của Hoàng Khánh và Trần Thị Thu Hiền (2015) và Hoàng Khánh (2016) lại sử dụng mô hình Benerish để xác định khả năng xảy ra sai sót trên báo cáo tài chính.
Đo lường CLLN theo tính bền vững của lợi nhuận Li (2014) đã thực hiện đo lường CLLN theo tính ổn định của lợi nhuận. Các tác giả về tính bền vững dựa trên nghiên cứu của Kormendi và cộng sự (1987) trên cơ sở kết quả hồi quy về sự liên quan giữa lợi nhuận năm nay và lợi nhuận năm trước đó, hệ số hồi quy được ước lượng từ mô hình để đo lường tính ổn định của lợi nhuận. 𝐸𝑎𝑟𝑛𝑖𝑡 𝐸𝑎𝑟𝑛𝑖𝑡−1 = 𝛼 + 𝛼1 * + 𝜀𝑖𝑡 (1) 𝐴𝑖𝑡−1 𝐴𝑖𝑡−1 𝐸𝑎𝑟𝑛𝑖𝑡 là lợi nhuận thuần của doanh nghiệp i trước các khoản bất thường năm t. 𝐸𝑎𝑟𝑛𝑖𝑡−1 là lợi nhuận thuần của doanh nghiệp i trước các khoản bất thường năm t - 1.
𝜀𝑖𝑡 là sai số. Để đo lường mức độ ổn định, Leuz và cộng sự (2003) đã sử dụng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là biến đại diện cho thu nhập không bị ảnh hưởng và đo lường mức độ ổn định trong sự thay đổi thu nhập. Bowen và cộng sự (2008) sử dụng tính độ lệch chuẩn 7 của dòng tiền từ các hoạt động chia cho độ lệch chuẩn của thu nhập để nghiên cứu sự ổn định của thu nhập. 𝜎(𝐶𝐹𝑂𝑖𝑡 /𝑇𝐴𝑖𝑡−1) Smoothit = (2) 𝜎(𝐸𝑎𝑟𝑛𝑖𝑡/𝐴𝑖𝑡−1) σ là độ lệch chuẩn của doanh nghiệp i.
CFOit là dòng tiền hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp i năm t. Earnit là lợi nhuận thuần trước các khoản bất thường của doanh nghiệp i năm t. Đo lường CLLN theo khả năng dự báo của lợi nhuận Dichev và cộng sự (2009) đã xem xét mối quan hệ giữa biến động lợi nhuận và dự báo lợi nhuận và đi đến kết luận rằng giữa biến động lợi nhuận và dự đoán lợi nhuận có tác động ngược chiều. Đặc biệt, lợi nhuận sẽ có biến động ở mức độ cao so với lợi nhuận được dự báo kéo dài đến 5 năm tiếp theo trong tương lai.
Francis và cộng sự (2004) đã đo lường mức độ dự báo lợi nhuận việc xây dựng công thức từ phương trình ổn định lợi nhuận (6).