CHƯƠNG 1 Trong chương một, luận văn đã khái quát chi tiết về các nội dung của đề tài nghiên cứu. Tác giả đã đưa ra được lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài, xác định rõ các mục tiêu của đề tài để đặt ra câu hỏi nghiên cứu phù hợp trong đối tượng và phạm vi lĩnh vực nghiên cứu cụ thể. Bên cạnh đó, luận văn cũng trình bày về đóng góp của đề tài và đưa ra kết cấu bố cục khái quát của đề tài nghiên cứu. Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ đưa ra các lý thuyết nền tảng về cấu trúc vốn và đi cùng với đó là các nghiên cứu thực nghiệm của các nghiên cứu trong và ngoài nước để tìm ra được nhân tố tác động đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp ngành năng lượng niêm yết tại TTCK Việt Nam.
9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Tổng quan về cấu trúc vốn của doanh nghiệp 2.1 Khái niệm cấu trúc vốn Mỗi tác giả sẽ có những nghiên cứu khác nhau về cấu trúc vốn của doanh nghiệp và có những nhận định riêng về vấn đề được nghiên cứu, nhưng quy chung lại sẽ có điểm tương đồng trong bản chất vấn đề được hướng đến nghiên cứu. Theo Ross, Westerfield và Jordan (2013), cấu trúc vốn là việc sử dụng nợ và vốn chủ sở hữu theo một tỷ lệ nhất định để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hay cấu trúc vốn định nghĩa là sự kết hợp giữa nợ và tài trợ bằng vốn chủ sở hữu. Doanh nghiệp tài trợ cho khoản đầu tư có sử dụng nợ được cho rằng doanh nghiệp sử dụng đòn bẩy tài chính (Brealey, Myers và Allen, 2014), hay khái niệm theo Brigham và Houston (2013), cấu trúc vốn là việc sử dụng nợ, cổ phiếu ưu đãi, vốn chủ sở hữu để tài trợ cho tài sản của doanh nghiệp.
Đối với nghiên cứu trong nước theo Nguyễn Minh Kiều (2010), cơ cấu vốn là quan hệ tỷ trọng giữa nợ và vốn chủ sở hữu, bao gồm vốn cổ phần ưu đãi và vốn cổ phần thường trong tổng số nguồn vốn của công ty. Qua các khái niệm về cấu trúc vốn của các tác giả nêu trên cho thấy các khái niệm về cấu trúc vốn có bản chất giống nhau đều là sự kết hợp giữa các nguồn tài trợ khác nhau (nợ và vốn chủ sở hữu) để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và doanh nghiệp sử dụng nợ để tài trợ cho tài sản được gọi là đòn bẩy tài chính. Nguồn tài trợ của doanh nghiệp gồm: - Nợ phải trả phản ánh các nguồn vốn hình thành do doanh nghiệp mua chịu hàng hoá, dịch vụ của nhà cung cấp, chiếm dụng vốn ngắn hạn hạn (người lao động, tiền thuế nhà nước, các quỹ,…), vay mượn, nguồn vốn khác. Căn cứ vào thời gian hoàn trả, nợ phải trả được chia thành 2 nhóm: Nợ ngắn hạn – các khoản nợ có thời gian hoàn trả không quá 12 tháng hoặc dưới một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường, thường được đầu tư vào nhóm tài sản ngắn hạn và đặc điểm của nợ ngắn hạn là doanh nghiệp được sử dụng với chi phí sử dụng vốn 10 thấp nhưng lại tạo áp lực thanh toán cao đối với doanh nghiêp.
Nợ dài hạn – các khoản nợ có thời gian hoàn trả từ 12 tháng trở lên hoặc trên một chu kỳ sản xuất kinh doanh thông thường, doanh nghiệp có thể huy động thông qua kênh phát hành trái phiếu doanh nghiệp, vay nợ trung dài hạn của các tổ chức tín dụng,…. - Vốn chủ sở hữu được hình thành do sự đóng góp từ các chủ sở hữu, lợi nhuận tích lũy từ kết quả hoạt động kinh doanh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp, các khoản dự trữ, thặng dư vốn cổ phần…. Đặc điểm của vốn chủ sở hữu là không có thời gian hoàn trả, chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu cao hơn chi phí sử dụng nợ và đây là nguồn tài trợ có tính ổn định cao.2 Chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn Quyết định về cấu trúc vốn là quyết định tài chính quan trọng đối với doanh nghiệp, bởi vì cấu trúc vốn tác động đến rủi ro tài chính, chi phí sử dụng vốn bình quân, tỷ suất sinh lời của chủ sở hữu và giá trị của doanh nghiệp. Do đó, để biết được tương quan giữa các hình thức tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, một số chỉ tiêu phản ánh đến cấu trúc vốn khi phân tích cụ thể như sau: • Hệ số nợ Hệ số nợ phản ánh mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp hay tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bởi bao nhiêu % là nợ.
Hệ số này càng cao cho thấy doanh nghiệp phụ thuộc vào nguồn vốn là nợ phải trả tài trợ cho tài sản lớn theo đó là mức độ rủi ro tài chính tăng và khả năng thanh toán thấp. Hệ số nợ cao doanh nghiệp khó có thể huy động thêm nguồn vốn bên ngoài đề đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngược lại, hệ số nợ thấp thì rủi ro mất khả năng thanh toán là khá thấp, doanh nghiệp linh hoạt chủ động hơn trong việc sử dụng nguồn vốn. Tuy nhiên, việc sử dụng nợ thấp cũng có thể cho rằng doanh nghiệp sử dụng vốn là nợ chưa phù hợp, chưa tận dụng được kênh huy động bằng nợ vay, đòn bẩy tài chính để khuyếch đại thêm giá trị cho doanh nghiệp.
Tổng số nợ Hệ số nợ = Tổng tài sản • Hệ số tự tài trợ 11 Hệ số tự tài trợ cho biết vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Hệ số tự tài trợ càng cao cho thấy mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiêp mạnh, khả năng thanh toán, khả năng bù đắp tổn thất từ nguồn vốn ổn định, an toàn là khá lớn. Hệ số tự tài trợ lớn hơn 50% cho biết cơ cấu vốn nghiêng về vốn chủ sở hữu. Hệ số tự tài trợ và hệ số nợ tỷ lệ ngược chiều nhau.
Do đó, khi phân tích, các nhà phân tích sẽ lựa chọn một trong hai chỉ tiêu này. Vốn chủ sở hữu Hệ số tự tài trợ = Tổng nguồn vốn • Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu Nợ Hệ số nợ trên Vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu cho biết một đồng vốn chủ sở hữu thì đang phải gánh chịu bao nhiêu đồng nợ. Nếu hệ số này lớn hơn 1 nghĩa là nợ chiếm tỷ trọng lớn hơn vốn chủ sở hữu và ngược lại. Doanh nghiệp cần cân nhắc giữa rủi ro tài chính và tận dụng lá chắn thuế từ lãi vay, tăng nợ vay để xây dựng một tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu phù hợp, mang lại hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
• Hệ số đòn bẩy tài chính 𝐓ổ𝐧𝐠 𝐧𝐠𝐮ồ𝐧 𝐯ố𝐧 Hệ số đòn bẩy tài chính = 𝐕ố𝐧 𝐜𝐡ủ 𝐬ở 𝐡ữ𝐮 Hệ số đòn bẩy tài chính cho biết tổng nguồn vốn của doanh nghiệp gấp bao nhiêu lần so với vốn chủ sở hữu. Khi hệ số đòn bẩy tài chính lớn hơn 2 nghĩa là trong cơ cấu vốn, nợ sử dụng nhiều hơn so với vốn chủ sở hữu, tức là cơ cấu vốn nghiêng về nợ.2 Lý thuyết về cấu trúc vốn 2.1 Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn Năm 1958, lý thuyết M&M lần đầu tiên được trình bày bởi Franco Modigliani và Merton H.Miller, họ đã đưa ra những định đề mới để giải thích lý thuyết cấu trúc vốn và từ đây bắt đầu sự ra đời của lý thuyết cấu trúc vốn hiện đại. Lý thuyết M&M tập trung xem xét mối liên hệ giữa giá trị doanh nghiệp và cấu trúc vốn trong hai môi trường không có thuế và có thuế. Trong môi trường không có thuế thì giá trị công ty có vay nợ bằng giá trị công ty không vay nợ hay giá trị của doanh nghiệp độc lập với cơ cấu vốn, thay đổi cơ cấu vốn không làm thay đổi giá trị 12 doanh nghiệp và thay đổi cơ cấu vốn không làm thay đổi chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp.
Với giả định công ty hoạt động trong môi trường không có thuế nêu trên do đó sẽ không thực tế, chỉ đúng với một số ít trường hợp chẳng hạn như khi công ty mới thành lập ở Việt Nam miễn thuế trong thời gian đầu khi doanh nghiệp thành lập. Năm năm sau, năm 1963, Modigliani và Miller nhận định rằng trong môi trường có thuế: Giá trị doanh nghiệp sẽ tăng thêm một lượng bằng hiện giá khoản tiền thuế hàng năm hay giá trị của doanh nghiệp sử dụng nợ vay sẽ tăng lên bằng đúng giá trị của doanh nghiệp không sử dụng nợ vay cộng thêm giá trị hiện tại của lá chắn thuế từ lãi vay. Và khi đòn bẩy tài chính nợ/vốn chủ sở hữu tăng lên thì chi phí sử dụng vốn bình quân giảm xuống và cơ cấu vốn tối ưu là 100% nợ nếu không có chi phí phá sản và WACC thấp nhất. Tuy nhiên, lý thuyết M&M các giả định tác giả đưa ra chưa mang tính thuyết phục gây hạn chế trong việc áp dụng thực tiễn và ra quyết định của nhà quản trị doanh nghiệp như giả định thị trường vốn hoạt động hiệu quả và cạnh tranh hoàn hảo, ở đó không có chi phí giao dịch, không có chi phí kiệt quệ tài chính,…Qua đó, lý thuyết M&M cho thấy khi doanh nghiệp sử dụng nợ vay sẽ tạo ra lá chắn thuế từ lãi vay và làm thay đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp.2 Quan điểm truyền thống về cấu trúc vốn Theo quan điểm truyền thống, tồn tại một cơ cấu vốn tối ưu, do đó doanh nghiệp có thể gia tăng thêm giá trị doanh nghiệp bằng cách sử dụng hợp lý các khoản tài trợ nợ trong cấu trúc vốn.
Lập luận của quan điểm này cho rằng sử dụng đòn bẩy tài chính có thể giúp giảm chi chi phí sử dụng vốn bình quân do chi phí sử dụng nợ rẻ hơn chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu nhờ khoản tiết kiệm thuế. 1 Cấu trúc vốn truyền thống Chi phí vốn (%) Ke WACC B Kd 0 X Mức độ sử dụng nợ (Nguồn: Quiry và cộng sự, 2005) Hình 2.1 cho thấy khi một doanh nghiệp bắt đầu sử dụng nợ, chi phí nợ vay (thấp hơn chi phí vốn chủ sở hữu) không đổi và chi phí vốn chủ sở hữu tăng chậm thì chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp giảm, khi chi phí sử dụng vốn bình quân giảm tới mức thấp nhất sẽ tạo ra một cấu trúc vốn tối ưu.