CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu cấu trúc vốn thu hút nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới cũng như trong nước. Khởi đầu là nghiên cứu của Modiglani và Miller (1958) được công bố, có rất nhiều tác giả đã thực hiện các nghiên cứu về cấu trúc vốn ở các quốc gia phát triển như: Rajan and Zingales (1995) nghiên cứu tại các nước trong khối G-7, Burgman (1996) tại Mỹ, Bevan and Danblolt (2002) tại nước Anh, Akhtar and Oliver (2009) nghiên cứu tại Nhật Bản,… và các quốc gia đang phát triển như: Booth và cộng sự (2001) được thực hiện tại Brazil, Mexico, Ấn Độ, Pakistan, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Zimbabwe; Pandey (2001) tại Malaysia; Chen (2003) nghiên cứu tại Trung Quốc;… Ở tại Việt Nam trong vài năm trở lại đây bắt đầu xuất hiện nhiều nghiên cứu về cấu trúc vốn dưới nhiều gốc độ. Chẳng hạn như nghiên cứu của Lê Đạt Chí (2012), Võ Thị Quý (2014), Lê Thị Thanh Tú (2012), Đỗ Văn Thắng và Trịnh Quang Thiều (2010),… Nhưng những nghiên cứu này chưa nghiên cứu đến ngành dược phẩm- y tế và hóa chất tại Việt Nam. Mục tiêu chung của các nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các công ty, xem xét tác động của các yếu tố đến cấu trúc, ảnh hưởng đến giá trị công ty và đề xuất xây dựng mô hình cấu trúc vốn tối ưu cho công ty.2 Cơ sở lí luận về cấu trúc vốn 1.
Các khái niệm liên quan đến cấu trúc vốn Thuật ngữ cấu trúc vốn thường được sử dụng bởi các nhà kinh tế người Mỹ, còn thuật ngữ cấu trúc tài chính lại được sử dụng phổ biến bởi các nhà kinh tế người Pháp. Một số quan điểm gần như đồng nhất hai khái niệm này nhưng cũng có một số quan điểm thể hiện sự không đồng nhất.Dubois-một giáo sư chuyên nghiên cứu về tài chính công ty của Đại học Pierre Mendes France: “Cấu trúc tài chính là quan hệ giữa các nguồn vốn được sử dụng bởi công ty, đó là nguồn vốn chủ sở hữu và nợ”.Myers: “Cấu trúc tài chính là một khái niệm được dùng để phản ánh mối quan hệ tính bằng tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu mà công ty sử dụng để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình”.Albouy - một trong những giáo sư hàng đầu của Pháp: “Cấu trúc tài chính của công ty được hiểu là quan hệ tỷ lệ giữa toàn bộ nợ kể cả các khoản nợ phát sinh trong kinh doanh và vốn chủ sở hữu được tính từ bảng cân đối kế toán”. Theo Bertoneche và Teulie: “Cấu trúc tài chính công ty là quan hệ tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu phục vụ cho quá trình tài trợ của công ty, còn cấu trúc vốn được hiểu là quan hệ giữa nợ trung-dài hạn và vốn chủ sở hữu”. Nói cách khác, tất cả những nguồn tài trợ cho toàn bộ nhu cầu vốn của công ty nói lên cấu trúc tài chính hay cơ cấu tài chính.
Cơ cấu tài chính nói lên công ty đã sử dụng những nguồn tài trợ nào và tỷ trọng của từng nguồn tài trợ là bao nhiêu so với tổng nguồn vốn. Cơ cấu tài chính được thể hiện qua sơ đồ sau: Cơ cấu tài chính Cơ cấu vốn Nợ ngắn hạn Nguồn vốn chủ sở hữu Nợ trung và ngắn hạn Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tài chính trong công ty Như thế có thể thấy rằng, cơ cấu tài chính bao gồm cơ cấu vốn và nợ ngắn hạn. Cơ cấu vốn bao gồm nguồn vốn chủ sở hữu và nợ trung- dài hạn thể hiện nguồn tài trợ thường xuyên, công ty có thể an tâm sử dụng trong thời gian tương đối dài. Việc bố trí cơ cấu tài chính thích hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm thấp giá sử dụng vốn của công ty.
Vì vậy, trong công tác quản trị tài chính cần thiết phải xây dựng cơ cấu tài chính tối ưu. 12 Bên cạnh đó, trong mỗi công ty, nguồn tài trợ ngắn hạn thường xuyên thay đổi theo tình hình thay đổi của tài sản ngắn hạn, do đó trong hoạch định tài chính dài hạn cho công ty, nhà quản trị chỉ quan tâm đến cơ cấu vốn. Cơ cấu vốn có ảnh hưởng đến lợi nhuận dành cho chủ sở hữu, vì thế trong dài hạn công ty cần thiết phải hoạch định cơ cấu vốn mục tiêu. Cơ cấu vốn mục tiêu là sự kết hợp hài hòa giữa nợ và vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của công ty theo mục tiêu đề ra, cơ cấu này làm giảm thiểu rủi ro và tăng hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu.
Một cấu trúc vốn phù hợp là một quyết định quan trọng với mọi công ty không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới công ty và hoạt động của công ty mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của công ty trong môi trường cạnh tranh. Khi xem xét cấu trúc vốn của một công ty, người ta thường chú trọng đến mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Cấu trúc vốn tối ưu liên quan tới việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của công ty. Tài trợ bằng vốn vay nợ tạo ra “lá chắn thuế” cho công ty, đồng thời giảm mức độ phân tán các quyết định quản lý.
Gánh nặng nợ, đứng trên một khía cạnh khác, tạo áp lực với công ty. Chi phí vay nợ có tác động đáng kể tới việc vận hành kinh doanh, thậm chí dẫn tới đóng cửa công ty. Tài trợ từ góp vốn cổ phần tạo ra chi phí sử dụng vốn cao hơn chi phí vay. Đặc điểm các nguồn vay 1.
Nguồn vốn vay Trong nền kinh tế thị trường hầu như không một công ty nào hoạt động sản xuất kinh doanh chỉ bằng nguồn vốn tự có mà phải hoạt động bằng nhiều nguồn vốn, trong đó có nguồn vốn vay. Nguồn vốn vay là nguồn vốn tài trợ bên ngoài công ty và công ty phải thanh toán các khoản vay theo thời hạn cam kết và đồng thời trả tiền lãi vay theo lãi suất 13 thỏa thuận. Nguồn vốn vay mang ý nghĩa quan trọng đối với việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của công ty. Các khoản nợ vay dài hạn là những khoản nợ có thời hạn thanh toán dài hơn 1 năm.
Nghĩa là trong vòng 1 năm tới, công ty chưa có nghĩa vụ phải thanh toán các khoản nợ này. Do vậy nợ dài hạn là nguồn vốn ổn định. Sự tăng lên của nguồn vốn này giúp cho tình trạng tài chính của công ty ổn định hơn, nhưng lãi suất các khoản nợ vay dài hạn thường cao hơn các khoản vay ngắn hạn nên chi phí sử dụng nợ dài hạn cao hơn. Nguồn vốn chủ sở hữu Nguồn vốn chủ sở hữu là nguồn vốn thuộc chủ sở hữu, thể hiện tiềm lực tài chính của công ty, niềm tin của họ vào triển vọng phát triển và khả năng sinh lời của số vốn bỏ ra đầu tư.
Đối với các chủ nợ, vốn chủ sở hữu được xem như là nguồn đảm bảo gián tiếp cho các khoản nợ đã cho công ty vay. Do vậy, sự tăng trưởng của vốn chủ sở hữu được đánh giá là tốt. Vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản góp vốn trực tiếp của chủ sở hữu, lợi nhuận giữ lại, các khoản lợi nhuận chưa phân phối, các quỹ của công ty được hình thành từ lợi nhuận sau thuế (trừ quỹ khen thưởng, phúc lợi). Nguồn vốn kinh doanh là nguồn vốn ổn định nhất trong công ty, là số vốn do chủ sở hữu công ty góp lúc thành lập hay góp bổ sung trong quá trình hoạt động và được bổ sung từ lợi nhuận giữ lại.
Nguồn vốn kinh doanh hình thành từ 2 nguồn: phần vốn góp trực tiếp của chủ sở hữu và phần lợi nhuận giữ lại. Nói khác đi, vốn chủ sở hữu có thể chia thành 2 phần: - Phần thứ nhất: nguồn vốn đầu tư của chủ sở hữu, đây là phần ổn định nhất, nó phản ánh giá trị vốn góp của chủ sở hữu vào công ty bằng vốn góp trực tiếp và bổ sung từ kết quả kinh doanh hàng năm (lợi nhuận giữ lại), bao gồm: + Vốn đầu tư của chủ sở hữu: là số vốn do chủ công ty góp lúc thành lập hay bổ sung trong quá trình hoạt động. Vốn đầu tư của chủ sở hữu phản ánh vốn thực góp của các chủ sở hữu căn cứ theo vốn điều lệ mà công ty đã đăng ký. 14 + Thặng dư vốn cổ phần: là phần chênh lệch giữa giá bán cổ phiếu khi phát hành với mệnh giá cổ phiếu.
Thặng dư vốn cổ phần thay đổi khi công ty có các khoản chênh lệch giá trong quá trình mua bán cổ phiếu quỹ. Thặng dư vốn cổ phần có thể chuyển lên vốn đầu tư của chủ sở hữu khi công ty thực hiện tách cổ phiếu và tăng vốn điều lệ. + Vốn khác của chủ sở hữu: là vốn kinh doanh được hình thành từ lợi nhuận giữ lại và các nguồn khác như lãi do chênh lệch đánh giá lại tài sản hoặc do được biếu tặng (sau khi đã khấu trừ thuế thu nhập công ty). + Cổ phiếu quỹ: là cổ phiếu do công ty phát hành và được mua lại bởi chính công ty phát hành, nhưng không bị hủy bỏ mà sẽ được tái phát hành trở lại sau một thời gian.
Cổ phiếu quỹ được phản ánh theo giá trị thực tế mà công ty đã mua lại. Khi công ty mua lại chính cổ phiếu của mình sẽ làm giảm phần vốn chủ sở hữu, khi cần thiết công ty lại bán cổ phiếu ra để tăng vốn chủ sở hữu lên. Cơ chế mua bán cổ phiếu quỹ giúp các công ty cổ phần sử dụng vốn chủ sở hữu một cách linh hoạt hơn. Do giá trị cổ phiếu quỹ mua vào làm giảm vốn chủ sở hữu nên cổ phiếu quỹ được thể hiện dưới dạng số âm trên bảng cân đối kế toán.
- Phần thứ hai: nguồn vốn thuộc chủ sở hữu nhưng biến động thường xuyên, công ty có thể tạm thời sử dụng cho hoạt động kinh doanh và nó sẽ luân chuyển, bao gồm: + Lợi nhuận chưa phân phối: đây là một nguồn vốn thuộc chủ sở hữu, là phần lợi nhuận thực hiện được mà công ty chưa chi hoặc chưa phân phối hoặc cũng có thể là các khoản lỗ lũy kế trong quá trình kinh doanh của công ty nếu nó được thể hiện bằng số âm. Lợi nhuận chưa phân phối thường xuyên biến động, khi công ty kết chuyển lợi nhuận nó sẽ tăng lên và khi công ty phân phối lợi nhuận thì nó sẽ giảm xuống.