Chương 1 tổng quan nghiên cứu, chương 2 cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu, chương 3 phương pháp nghiên cứu, chương 4 kết quả nghiên cứu và thảo luận, chương 5 kết luận và hàm ý quản trị. Trên cơ sở đó để thực hiện các bước tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm, đặc điểm của GDĐH và lợi ích của việc học Đại học 2.
Khái niệm về GDĐH Theo từ điển Giáo dục học (2001) thuật ngữ giáo dục là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hội. Giáo dục là bộ phận của quá trình tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội, mà con người được giáo dục là nhân tố quan trọng nhất, vừa là động cơ, vừa là mục đích phát triển xã hội. Theo Ronald Barnett (1992) có 4 khái niệm thông dụng nhất về GDĐH: GDĐH là một dây chuyền sản xuất mà đầu ra là nhân lực đạt chuẩn: Với quan điểm này, GDĐH là một quá trình trong đó người học được quan niệm như những sản phẩm được cung ứng ra thị trường lao động. Như vậy, GDĐH trở thành “đầu vào” tạo nên sự phát triển và tăng trường của thương mại và công nghiệp.
GDĐH là đào tạo để trở thành nhà nghiên cứú. Với quan điểm này GDĐH là thời gian chuẩn bị để hình thành nên những nhà khoa học và nghiên cứu thực sự. GDĐH là quản lý việc tổ chức giảng dạy một cách hiệu quả. Hoạt động giảng dạy là cốt lõi của một trường Đại học do vậy các trường phải quản lý việc giảng dạy để nâng cao chất lượng.
GDĐH là mở rộng cơ hội trong cuộc sống cho người học. Như vậy, GDĐH xem như là một cơ hội tốt để học viên nâng cao, phát triển, hình thành thêm nhận thức bản thân. Đại học có vai trò đào tạo những thế hệ tương lai biết suy nghĩ và năng lực suy nghĩ, tức là những người đi trên hai chân, một chân làm ra vốn liếng, một chân bảo 7 tồn đạo đức. Một mặt lo kinh tế, mặt kia lo xã hội.
Vừa thấy hiện tại lại để ý lo cho tương lai. Biết từ đâu đến và biết sẽ đi về hướng nào. Trong các văn kiện của UNESCO đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục cũng như triết lý của Đại học: Không những đào tạo cho sinh viên có kiến thức vững chắc và biết vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh hiện thời và cho cả tương lai. Hơn nữa, còn đào tạo những công dân có ý thức trách nhiệm, sẵn sàng bảo vệ hòa bình, nhân quyền và những giá trị dân chủ.
Như vậy, các khái niệm này đã thể hiện tính liên hoàn và làm rõ GDĐH là cơ hội cho người học được tham gia vào quá trình phát triển bản thân bằng cách học tập thường xuyên và linh hoạt. Đặc điểm của dịch vụ GDĐH Theo cách tiếp cận của WTO, giáo dục nói chung, GDĐH nói riêng là một loại hình cung cấp dịch vụ mà ở đó khách hàng là người học, người sử dụng lao động, phụ huynh với những nhu cầu rất đa dạng và phong phú. Với góc nhìn của dịch vụ chuyên môn, trường Đại học là tổ chức cung cấp dịch vụ giáo dục có trình độ cao trong đó trực tiếp là đội ngũ “nhân viên học thuật” gồm các chuyên gia, giảng viên. Vì vậy, hoạt động của các tổ chức này mang đầy đủ tính chất đặc thù của dịch vụ là: Tính vô hình, tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ, tính không đồng đều về chất lượng và tính không dự trữ được (Zeithaml và cộng sự, 1985).
+ Tính vô hình: Các chương trình đào tạo, giáo dục mang tính vô hình, người học không thể nhận biết, hình dung, dùng thử trước khi học, không đánh giá được chất lượng sau khi học. + Tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng: Quá trình dạy học và học xảy ra đồng thời, tại một địa điểm và thời gian nhất định. + Tính không đồng đều về chất lượng: Chương trình học không thể được cung cấp hàng loạt, tập trung như sản xuất hàng hoá. Các trường khó kiểm tra chất lượng theo một tiêu chuẩ̉n thống nhất.
Mặt khác, sự cảm nhận của người học về chất lượng chương trình học lại chịu tác động mạnh bởi kỹ năng, thái độ của giảng viên. Sức khoẻ, sự nhiệt tình của giảng viên có thể thay đổi vào các thời điểm giảng dạy khác nhau (buổi sáng và buổi chiều), cũng có thể chịu ảnh hưởng của bối cảnh 8 giảng dạy như bầu không khí phòng học, đối tượng nghe giảng (tích cực hay thụ động). Do vậy, rất khó có thể đạt được sự đồng đều về chất lượng giảng dạy ngay trong một ngày. Có nhiều giảng viên dạy cùng một môn thì càng khó đảm bảo tính đồng đều về chất lượng của môn học.
+ Tính không dự trữ được: Chương trình học chỉ tồn tại vào thời gian mà nó được cung cấp cho người học, không thể dự trữ được. + Tính không chuyển quyền sở hữu được: Khi quyết định tham gia chương trình đào tạo nào thì người học chỉ được quyền tham gia học, được hưởng lợi ích mà chương trình mang lại trong một thời gian nhất định mà không thể chuyển cho ai được. Trong nghiên cứu này, tác giả đồng thuận rằng các trường Đại học là các tổ chức cung ứng dịch vụ GDĐH, với tư cách này các trường Đại học sẽ hoàn thiện các tiêu chí chất lượng, quản lý và có chiến lược marketing hiệu quả nhằm thu hút và cung ứng đến “khách hàng” của họ những dịch vụ GDĐH chất lượng tốt nhất. Khái niệm, đặc điểm học sinh trung học phổ thông 2.
Khái niệm Theo Luật giáo dục Việt Nam sửa đổi năm 2019, học sinh THPT là người đã vượt qua kỳ thi tốt nghiệp THCS và tiếp tục học ở bậc THPT thông qua kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10. Học sinh THPT thường có độ tuổi từ 15 - 18 tuổi và trải qua 3 lớp 10,11, 12. Ở độ tuổi này họ có các đặc điểm tâm sinh lý riêng và tác động đến ý định và quyết định lựa chọn nghề nghiệp, chọn trường Đại học. Đặc điểm - Sự phát triển của tự ý thức: Đây là lứa tuổi phát triển mạnh mẽ của tự ý thức.
Học sinh ý thức về “Cái Tôi” và ý thức về những đặc điểm và phẩm chất tâm lí của bản thân. Chính vì điều này, họ thường rất thuận lợi và trưởng thành khi đưa ra các quyết định trong cuộc sống. Ở giai đoạn này họ nhận thức rõ được giá trị nghề nghiệp và sự phù hợp của nghề nghiệp với khả năng, tính cách, hứng thúcủa từng cá nhân. Muller (2003) cũng cho rằng ở lứa tuổi này, học sinh THPT có phát triển trí tuệ, tư duy cao.
Họ có khả năng suy nghĩ, so sánh, cân nhắc, giả định, đối chiếu và rút ra những nhận định của bản thân về nghề nghiệp và lựa chọn trường dưa trên cơ 9 sở những thông tin có được từ truyền thông đại chúng, dư luận xã hội, bạn bè, gia đình. Do vậy, học sinh cũng có khả năng tự lựa chọn ngành nghề chính xác (Lê Văn Hồng, 2002) và đưa ra các quyết định quan trọng như lựa chọn trường Đại học rất đáng tin cậy. - Lí tưởng sống của thanh niên: Điểm đặc trưng trong lí tưởng của thanh niên là lí tưởng nghề và lí tưởng đạo đức cao cả. Lí tưởng này được thể hiện qua mục đích sống, qua sự say mê với việc học tập, nghiên cứu và lao động nghề nghiệp (Lê Hương, 2000).
Học sinh PTTH có nhiều hoài bão, lí tưởng sống tích cực và nỗ lực để đạt được những hoài bão tốt đẹp trong tương lai. - Tính tích cực xã hội của thanh niên: Học sinh PTTH thường quan tâm nhiều đến các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội diễn ra trong nước và nước ngoài. Những kiến thức, kinh nghiệm mà học sinh được ghi nhận tích lũy trong học tập và cuộc sống hàng ngày đã giúp họ đưa ra các nhận định riêng trong các vấn đề xảy ra. Tuy nhiên, thế giới quan này chưa đạt được mức độ sâu sắc và bền vững (Kôn.
Thực tế là, các nhận định của họ đưa ra thường rất cứng nhắc, chủ quan nhưng khá kiên định. - Hoạt động học tập của học sinh THPT: Hoạt động chủ đạo của lứa tuổi này là học tập – hướng nghiệp vì vậy ý thức về nghề và sự chuẩn bị cho cuộc sống tương lai là một nhu cầu cấp bách. Việc học tập có tính lựa chọn rõ ràng, họ thường tập trung học nhiều hơn đối với các môn học liên quan đến nghề và trường chọn để thi, hoặc các môn gây hứng thú đặc biệt. Động cơ học tập của học sinh có tính hiện thực, gắn liền với nhu cầu và xu hướng nghề nghiệp đang diễn ra.
Thái độ học tập của các em cũng thay đổi theo hướng tích cực như tự giác, hứng thú và chăm tìm tòi kiến thức thực tế vận dụng vào bài học hơn. Học sinh THPT có khả năng nhận thức được rõ rệt về lợi ích của các quyết định, họ hoàn toàn có thể nhận biết rõ được cái họ muốn, nhu cầu mà họ cần và biết lựa chọn so sánh nhằm hướng đến sự phù hợp và tận dụng được các lợi thế (kỹ năng của chính mình (Ginzberg, Ginzburg, Axelrad, và Herme,1951). Điều này hoàn toàn đúng với quyết định lựa chọn trường Đại học, nghĩa là học sinh THPT có thể ý thức được tầm quan trọng và những mong đợi lợi ích của quyết định này. Ý định chọn trường của học sinh THPT Ý định chọn trường Đại học của học sinh THPT trong luận văn này được xác định là khi đăng ký xét tuyển chọn trường đại học thì học sinh THPT chọn nguyện 1 vào trường đại học và muốn theo đuổi việc học tại trường Đại học.
Lý thuyết liên quan 2. Lý thuyết về hành vi dự định (TPB – Theory of Planned Behavior) Thuyết hành vi dự định (Ajzen, 1991) là sự phát triển từ thuyết hành động hợp lý. Ajzen đã bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi vào lý thuyết hành động hợp lý TRA để xây dựng thuyết hành vi dự định TPB. Thuyết này phát biểu rằng có ba nhân tố ảnh hưởng đến ý định dẫn đến hành vi của con người: Thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi.