phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn. gồm 3 chương: Chuong 1: Ci sở lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Việt Nam Chương 2: Thi kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và các hàm ý đề xuất từ kết quả nghiên cứu 6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu “Các nghiên cứu nước ng Nghiên cứu minh bach thông tin tài chính trong phạm vi một quốc gia, nhóm tác giả Cheung và cộng sự (2005) có bài viết với tua dé “Determinants of Corporate Disclosure and Transpareney: Evidenee from Hong Kông and Thailand” da xem xét mức độ công bố va minh bạch thông tin tdi chinh của các doanh nghiệp niêm yết ở 2 thị trường mới nỗi là Thái Lan và Hồng Kông. cứu đưa ra 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bồ và minh bạch thông.
tin là: Nhóm nhân t chính và nhóm nhân tổ quản trị công ty. *_ Nhóm nhân tài chính, nhóm tác giả đưa ra 5 biển ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh bạch gồm: + Quy mô, + Đồn bẩy tài chính; + Kết quả tài chính; + Tài sản dim bio va + Higu qua sir dung tài sản *⁄_ Đối với nhóm nhân tố về quản trị công ty, nhóm tác giả cho rằng các biến có ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh bạch của thông tin gồm: + Mức độ tập trung quyền sở hữu; + Cơ cấu của HĐQT và + Quy mô của HĐQT. Nghiên cứu được thực hiện trên hai thị trường là Thái Lan và Hồng Kông vì hai quốc gia này vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 với cách thức khác nhau. Nhóm tác giả đã thực hiện khảo sát với số lượng 265 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK Thái Lan và 148 doanh nghiệp niêm yết trên TTCK.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: mức độ công bồ và minh bạch thông tin của các doanh nghiệp Thái Lan khác biệt so với các doanh nghiệp ở Hồng Kông S ự thay đổi trong mức độ công bổ và minh bạch thông tin cho các doanh nghiệp ở Hồng Kông có thể được giải thích bằng các nhân tổ tài chính. Trong khi đó, nhóm nhân tổ này lại không ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh. bạch thông tin cho các doanh nghiệp ở Thái Lan. Các nhân tổ quản trị công ty như quy mô và cơ cấu HĐQT có ảnh hưởng đến mức độ công bố và minh minh.
'bạch thông tin ở Thái Lan nhưng lại không ảnh hưởng đến mức độ công bố và. minh bạch thông tin ở Hồng Kông. Riêng biến “tỷ lệ các giám đốc điều hành. không phải là thành viên của HĐQT” (trong biến cơ cấu của HĐQT) càng lớn thì mức độ minh bạch và công bổ thông tin của các DNNY cảng cao ở cả Thái Lan và Hồng Kông.
Nghiên cứu cũng đã thực nghiệm đẻ xác định các nhân tố. ảnh hưởng đến mức độ công bồ và minh bạch thông tỉn và kết luận rằng quản trị công ty tốt dẫn đến việc công bố và minh bạch thông tin sẽ tốt hơn ở thị trường. Tuy nhiên, nhóm tác giả chủ yếu chỉ so sánh mức độ ảnh hưởng của các nhân tổ trên giữa 2 TTCK Thái Lan và Hồng Kông. đồng thời chỉ mới thống.
kê mô tả về mức độ ảnh hưởng của các nhóm nhân tổ tài chính và quản trị công ty; nhưng chưa giải thích được nguyên nhân sâu xa của các kết quả từ nghiên cứu thực nghiệm, chẳng hạn vì sao hầu như các nhân tổ tài chính lại không ảnh. hưởng đến tính minh bạch và mức độ công bố thông tin ở các DNNY Thai Lan nhưng lại có ảnh hưởng đối với các CTNY Hồng Kông. 'Nghiên cứu trên phạm vỉ toàn thể giới, có nhóm tác giả Robert Bushman, Piorodi & Smith (2004) với tựa dé “What Determines Corporate Transparency? thực hiện nghiên cứu tại 45 quốc gia trên toàn thể giới. tác giả đã phân tích về sự minh bạch thông tin của các doanh nghiệp dựa trên 2 khía cạnh: minh bạch thông tin ï chính và minh bạch thông tìn quản trị.
Nghiên cứu này cũng đánh giá mức độ ảnh hưởng của nhân tổ luật pháp và kinh tế đến. tinh minh bạch thông tin của doanh nghiệp. Nhóm tác giá kết luận rằng: minh bạch trong quản trị công ty chủ yếu liên quan đến chế độ pháp lý, trong khi đó minh bạch thông tin tài chính liên quan chủ yếu đến chính sách kinh tế. Cụ thé, tinh minh bạch trong quản trị công ty cao hơn ở các nước theo thông luật.
Ngược lại, minh bach thông tin tài chính cao hơn ở các quốc gia có nền kinh tế có đặc điểm sở hữu nhà nước thấp. Doanh nghiệp có quy mô lớn thì mức độ minh bạch thông tỉn tài chính cao hơn doanh nghiệp nhỏ. Ngược lại, mức độ minh bạch trong quản trị công ty không liên quan đến quy mô doanh nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu của Bushman và nhóm tác giả chỉ đừng lại ở mức thống kê mô tả các nhân tổ liên quan dén tinh minh bạch thông tin và trình bảy các thước do để đo lường mức độ minh bạch thông tin mả chưa đưa ra được mối tương quan giữa.
các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin. Nghign ciru "Stakeholders and transparencycapital structure" cia Andres Almazan, Javier Suarez va Sheridan Titman (2003). Nhóm tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa minh bạch thông tin với cơ cấu vốn trong doanh nghiệp và chỉ ra rằng mức độ mình bạch thông tin càng cao thì các doanh nghiệp. có xu hướng lựa chọn cơ cấu vốn an toàn hơn “Tiếp theo các nghiên cứu trên, nhóm tác giả Bartley R.
Danielsen và cộng. sự (2007) có bài viết *Audior Fees, Market Microstueture, and Firm transparency” (Journal of Business Finanee & Accounting), nghiên cứu đưa ra 2 giả thuyết: giả thuyết thứ nhất là phí kiểm toán cảng cao thì rủi ro kiểm toán cảng lớn và giả thuyết thứ hai là các doanh nghiệp trả phí cho danh tiếng của. các doanh nghiệp kiểm toán thì nhận thức của người sử dụng BCTC được cái thiện. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cũng chứng tỏ giả thuyết thứ nhất là đúng còn giả thuyết thứ hai nhóm tác giả chưa tìm thấy mi liên hệ giữa danh tiếng của doanh nghiệp kiểm toán và nhận thức của người sử dụng BCTC trong.
mẫu nghiên cứu. Nhóm tác giả Yu-Chih Lin. và cộng sự (2007) trong nghiên cứu “The relationship between information transparency and the informativeness of accounting earnings”. Nghiên cứu sử dụng các doanh nghiệp niêm yết tại Đài Loan năm 2003 và năm 2004 làm mẫu để nghiên cứu mỗi quan hệ giữa minh bạch thông tin và tinh tin cây của thu nhập kế toán.
Mức độ minh bạch thông tỉn được đo lường bằng kết quả xếp hạng của ITDRS (đây là chỉ số đánh giá. xếp hạng về sự minh bạch và công bồ thông tin của các DNNY được xây dựng. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của nhóm tác giả cho thấy rằng: minh bạch thông tin gắn với tính tin cậy của thu nhập kế toán. Mức độ minh bạch thông tin được đo bằng tỷ số các khoản đầu tư cổ phiều dài hạn thì thông.
tin thu nhập kế toán sẽ gia tăng ở các công ty có mức độ minh bạch cao. Kết cquá cũng cho thấy, theo đánh giá của nhà đầu tư, số liệu của kế toán hữu ích và có giá trị hơn so với kết quả xếp hạng của chỉ số [TDRS. Nhóm tác giả cũng cho rằng sử dụng chỉ số ITDRS không phải là cách tốt để đánh giá sự minh bạch của thông tin tài chính. “Các nghiên cứu trong nước.
Nghiên cứu ở cắp độ tiến sĩ có tác giả Lê Thị Mỹ Hạnh (2015), “Minh bạch thông tin tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, nghiên cứu sử dụng số liệu của 178 doanh nghiệp niêm yết trên HOSE và đưa ra 8 giả thuyết tương ứng với 8 biến tác động đến mức độ. minh bạch thông tin tài chính gồm: quy mô, đỏn bẩy tải chính, lợi nhuận, hiệu quả sử dụng tải sản, công ty kiểm toán, cơ cấu HĐQT, quy mô HĐQT, sự kiêm. nhiệm giữa Chủ tịch HĐQT vả Tổng GĐ. Kết quả phân tích cho thấy các nhân tố.
như đòn bẩy tải chính, lợi nhuận (ROE) và doanh nghiệp kiểm toán có mỗi tương, quan thuận với mức độ minh bạch thông tin tài chính còn cơ cầu HĐQT_2 (doanh nghiệp có tỷ lệ giám đốc điều hành không có trong HĐQT) có mối tương quan. nghịch với mức độ minh bạch thông tin tải chính của các DNNY trên TTCK Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng 2 cách dé đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính. Cách thứ nhất: tác giả dựa trên các đặc điểm phản ánh sự minh bach của thông tin tài chính như: tin cậy, đầy đủ, nhất quán, chính xác, kịp thời và thuận tiện để đo lường mức độ minh bạch.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu trên các báo cáo như: báo cáo kiểm toán, BCTC,. Cách này được sử dụng để làm cơ sở xây dựng bảng câu hỏi, đối chiếu, so sánh với việc đo. lường minh bach theo cách thứ bai. Cách thứ hai: tác giả sử dụng phiếu khảo.
sát để đánh giá mức độ mình bạch thông tin tài chính của các DNNY theo cảm. nhận của nhà đầu tư. Cách nảy dữ liệu được lấy từ phần trả lời của nhà đầu tư cqua 2 thời điểm: tháng 4 năm 2013 và tháng 2 năm 2014. Cách thứ hai này được sử dụng để đo lường mức độ minh bạch thông tin tài chính và đẻ chứng.
minh cho các giả thuyết nghiên cứu của tác giả. Nghiên cứu của tác giả chỉ tập. trung vào các doanh nghiệp niêm yết trên sàn HOSE. Do đó, chưa bao quát được hết TTCK Việt Nam.
Các nhân tố có thể ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin tai chinh như: mức độ sở hữu tập trung; sở hữu nhà nước chưa được tác giả xem xét. Việc đo lường mức độ minh bạch thong tin dựa vào phiểu khảo. sát nhà đầu tư có độ tin cậy không cao vì kết quả đánh giá mức độ minh bạch. hoàn toàn phụ thuộc vào ý kiến chủ quan của người được khảo sát.
Ngoài ra, nghiên cứu của tác giả chỉ thu thập dữ liệu 2 năm và sử dụng mô hình hồi quy đa biến để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến minh bạch thông tin tài chính nên kết quả có thể kém tin cậy. Ở cấp độ thạc sĩ, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Nhất Nam (2015) với tựa đề “Các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trén HOSE”, tác giả xây dựng mô hình hồi quy I1 biến ảnh.