phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung nghiên cứu của đề tài sẽ đƣợc trình bày thành bốn chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả tài chính và các nhân tố ảnh hƣởng tới hiệu quả tài chính của doanh nghiệp 5 Chƣơng 2: Thực trạng về hiệu quả tài chính của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng đƣợc niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam Chƣơng 3: Thiết kế nghiên cứu các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả tài chính của công ty sản xuất hàng tiêu dùng niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam Chƣơng 4: Kết quả và hàm ý rút ra từ kết quả nghiên cứu 7. Các nghiên cứu trƣớc liên quan đến đề tài nghiên cứu Hiệu quả tài chính là hiệu quả liên quan đến khả năng sinh lời đồng vốn chủ sở hữu. Đó là mối quan tâm của ngƣời chủ sở hữu của bất kì tổ chức nào và sự tăng trƣởng của nó qua thời gian nhƣ là tiêu chí hƣớng đến cuối cùng của nhà đầu tƣ [13]. Đến thời điểm hiện nay đã có nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc tiến hành nghiên cứu về các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả tài chính doanh nghiệp nhằm xác định đƣợc các yếu tố thực sự ảnh hƣởng và từ đó góp phần nâng cao hiệu quả tài chính cho doanh nghiệp.
Có rất nhiều chỉ tiêu dùng để đo lƣờng hiệu quả tài chính doanh nghiệp, tuy nhiên theo các giáo trình đƣợc biên soạn tại Việt Nam, các tác giả sử dụng chỉ tiêu Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) để đo lƣờng hiệu quả tài chính doanh nghiệp [3], [12], [13]. Trong đề tài nghiên cứu của tác giả về các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả tài chính của các công ty sản xuất hàng tiêu dùng tại Việt Nam, tác giả sử dụng “Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE)” để đo lƣờng hiệu quả tài chính doanh nghiệp (tác giả sẽ giải thích ở mục 1. Bên cạnh đó, một số đề tài nghiên cứu về hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xây dựng, thủy sản, du lịch, … nhƣng cũng sử dụng biến phụ thuộc là “Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE)”, có liên hệ rất mật thiết với đề tài nghiên cứu của tác giả. Sau đây tác giả xin giới thiệu những công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc mà các nghiên cứu thực nghiệm này là cơ sở để tác giả tiếp tục bài nghiên cứu của mình: 6 Vào năm 2005, Tác giả Weixu đã thực hiện nghiên cứu về “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả tài chính”.
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 1,130 công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Thƣợng Hải, ngoại trừ các công ty hoạt động trong ngành ngân hàng, bảo hiểm, công ty tài chính. Các biến đƣa vào mô hình nghiên cứu nhƣ sau: - Biến phụ thuộc: Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE). - Biến độc lập: Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E), tốc độ tăng trƣởng doanh thu (GROWTH), qui mô công ty (SIZE). Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ suất nợ (D/E) tác động dƣơng đến hiệu quả tài chính ở mức tỷ suất nợ thấp và tác động âm ở mức có tỷ suất nợ cao.
Biến qui mô công ty (SIZE) có tác động dƣơng đến hiệu quả tài chính khá mạnh. Biến tốc độ tăng trƣởng (GROWTH) không có tác động đến hiệu quả tài chính. [31] Năm 2006, tác giả Trần Thị Hòa tại Việt Nam cũng nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thƣơng mại trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng” theo xu hƣớng xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả tài chính. Kết quả của tác giả chỉ ra rằng Tỷ suất sinh lời của tài sản (ROA), Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E), khả năng sinh lời kinh tế của tài sản (RE), Số vòng quay vốn lƣu động là 4 nhân tố tác động thuận chiều tới tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) của các doanh nghiệp này.[5] Nhóm tác giả Dimitris Margaritis & Maria Psillaki thực hiện nghiên cứu “Mối quan hệ giữa cơ cấu vốn và hiệu quả tài chính của công ty” vào năm 2007.
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các công ty ở Pháp thuộc lĩnh vực: dệt may, dƣợc phẩm và lĩnh vực phát triển nhƣ máy tính, nghiên cứu và phát triển. Nghiên cứu của Dimitris Maria Psillaki thực hiện nghiên cứu hai chiều, hai mô hình: 7 - Mô hình 1: Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu và các yếu tố tác động đến hiệu quả tài chính. - Mô hình 2: Hiệu quả tài chính và các yếu tố tác động đến tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu. Kết quả nghiên cứu cho thấy ở mô hình 1: tỷ suất nợ tác động dƣơng đến hiệu quả tài chính khi tỷ suất nợ ở mức trung bình, ở mô hình 2: hiệu quả tài chính tác động đến tỷ suất nợ và sự tác động này có ý nghĩa khi tỷ suất nợ ở mức từ thấp đến trung bình.
[18] Bên cạnh đó, nghiên cứu của Daniel Circiumaru, Marian Siminica, Nicu Marcu (2008) thuộc khoa kinh tế và quản trị kinh doanh của đại học Craiova Romania về hiệu quả tài chính của 73 doanh nghiệp trong ngành công nghiệp của Romania. Tiếp cận các nhân tố ảnh hƣởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu theo quan điểm của Bied-Charreton về khai triển ROE theo phƣơng trình Doupont, các biến đƣợc đƣa vào mô hình nghiên cứu: - Biến phụ thuộc: Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE). - Các biến độc lập: Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu (lợi nhuận/doanh thu), hiệu suất sử dụng tài sản (doanh thu/tổng tài sản), đòn bẩy tài chính. Kết quả nghiên cứu trên 73 doanh nghiệp trong năm 2008 đã chỉ ra rằng: cả ba nhân tố này đều có ảnh hƣởng thuận chiều đến tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu.
Tuy nhiên trong ba nhân tố này thì đòn bẩy tài chính là nhân tố ảnh hƣởng nhƣng không đáng kể đến biến phụ thuộc ROE.[22] Vào năm 2010, Nhóm tác giả Onaolapo và Kajola đã thực hiện nghiên cứu “Các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh và hiệu quả tài chính công ty” của 30 công ty phi tài chính đƣợc niêm yết trên sàn chứng khoán Nigeria từ 2001 đến 2007. Các biến đƣa vào mô hình nghiên cứu: - Biến phụ thuộc: ROA, ROE. - Biến độc lập: Tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E), Tốc độ tăng trƣởng của doanh thu (GROWTH), Qui mô công ty (SIZE), Tài sản cố định (TANG), 8 Vòng quay tài sản (TURN), Năm thành lập (AGE), Ngành nghề kinh doanh (IND). Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ suất nợ, tài sản cố định tác động âm tới ROA và ROE; vòng quay tài sản, quy mô công ty, tốc độ tăng trƣởng, năm thành lập tác động dƣơng tới ROA và ROE.
Yếu tố ngành nghề kinh doanh có tác động đến ROA và ROE, cụ thể nhƣ: Ngành rƣợu bia, thực phẩm và đồ uống, ngành in ấn, thuốc lá, thiết bị điện tử, có tác động đến ROA. Ngành rƣợu bia, thực phẩm và đồ uống, thuốc lá, ngành xây dựng có tác động mạnh đến ROE. [26] Cùng thời điểm này ở Việt Nam, Tác giả Đoàn Ngọc Phi Anh (2010) cũng tiến hành nghiên cứu đặc biệt so với các nghiên cứu khác là “Các nhân tố ảnh hƣởng đến cấu trúc tài chính và hiệu quả tài chính: tiếp cận theo phƣơng pháp phân tích đƣờng dẫn” với số liệu thu thập từ các báo cáo tài chính của 428 doanh nghiệp niêm yết trên hai sàn chứng khoán ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội từ năm 2007 – 2009. Các biến độc lập đƣợc sử dụng: Hiệu quả kinh doanh (ROA), rủi ro kinh doanh (độ lệch chuẩn của lợi nhuận), cấu trúc tài sản, quy mô doanh nghiệp (doanh thu bán hàng), tốc độ tăng trƣởng cùng với biến phụ thuộc là tỷ lệ nợ.
Với cách tiếp cận theo phƣơng pháp phân tích đƣờng dẫn , nghiên cứu đã chỉ ra : Hiệu quả kinh doanh, rủi ro kinh doanh, cấu trúc tài sản có quan hệ tỷ lệ nghịch với cấu trúc tài chính trong khi đó quy mô doanh nghiệp có quan hệ tỷ lệ thuận với cấu trúc tài chính. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cả hiệu quả hoạt động kinh doanh và cấu trúc tài chính đều có tác động cùng chiều đến ROE và hai nhân tố này giải thích đƣợc 90% sự biến động của ROE. [1] Năm 2013, Sara Kanwal và Muhamad Nadeem nghiên cứu về hiệu quả tài chính (ROE) của 22 doanh nghiệp ngành xây dựng ở Pakistan trong khoảng thời gian từ 2007-2011. Bằng phƣơng pháp xây dựng mô hình hồi quy, tác giả đã sử dụng các biến: 9 - Biến phụ thuộc: Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE).
- Có 7 biến độc lập: Quy mô doanh nghiệp, tốc độ tăng trƣởng, cấu trúc tài sản, cấu trúc vốn (tỷ suất nợ trên vốn chủ sở hữu), khả năng thanh toán hiện hành, tốc độ tăng trƣởng kinh tế (GDP) và lạm phát. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong 7 nhân tố trên có 4 nhân tố ảnh hƣởng đến ROE là: Quy mô, cấu trúc vốn, cấu trúc tài sản và lạm phát. Trong đó nhân tố quy mô doanh nghiệp, cấu trúc vốn và cấu trúc tài sản có mối quan hệ thuận chiều tới ROE.[33] Nhóm Tác giả Trƣơng Đông Lộc và Trần Văn Tâm (2013) nghiên cứu “Phân tích hiệu quả tài chính của các công ty lƣơng thực ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long”. Số liệu sử dụng trong nghiên cứu này đƣợc thu thập trực tiếp từ báo cáo tài chính của 42 công ty trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2011.
Các biến đƣa vào mô hình nghiên cứu nhƣ sau: - Biến phụ thuộc: Tỷ suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE). - Các biến độc lập đƣợc sử dụng: Số lao động, cấu trúc vốn (nợ phải trả/ tổng nguồn vốn), cấu trúc tài sản (tài sản cố định/ tổng tài sản), vòng quay tổng tài sản (doanh thu thuần/ tổng tài sản), tỷ lệ doanh thu xuất khẩu (doanh thu xuất khẩu/ tổng doanh thu). Với dữ liệu thu thập dạng bảng (panel data), bằng phƣơng pháp thống kê mô tả, sử dụng ƣớc lƣợng bình phƣơng nhỏ nhất (OLS) cho mô hình để tìm ra các nhân tố ảnh hƣởng đến ROE. Kết quả phân tích bằng mô hình hồi quy hiệu ứng cố định chỉ ra rằng tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của các công ty bị ảnh hƣởng bởi ba nhân tố, đó là: cấu trúc vốn, vòng quay tổng tài sản và tỷ trọng doanh thu xuất khẩu.