CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN 1. KHÁI NIỆM CHUNG VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN Công bố thông tin được sử dụng để phát hành tất cả các thông tin liên quan đến giao dịch, đảm bảo kinh doanh. Mục tiêu của tiết lộ đầy đủ là để đảm bảo tính minh bạch, để các NĐT khi tham gia vào thị trường chứng khoán, vì vậy khi tiết lộ những thông tốt và bao gồm cả thông tin xấu. Gibbins Richardon và Waterhouse (1990, 122) tiết lộ là một quy định công khai, phát hành có chủ ý các thông tin tài chính và phi tài chính cho dù số lượng hay chất lượng theo yêu cầu hoặc tự nguyện, thông qua các kênh chính thức hoặc không chính thức.
Theo quan điểm của Bộ Tài Chính, được thể hiện trong Sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết, công bố thông tin được hiểu là phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin. Chúng ta thừa nhận minh bạch thông tin “là sự công bố thông tin kịp thời và đáng tin cậy, nó cho phép những người sử dụng thông tin đó có thể đánh giá chính xác về tình hình và hiệu quả của một ngân hàng, hoạt động kinh doanh và rủi ro liên quan đến các hoạt động này”(Theo International Finance Coporation, Public disclosure and transparency, Yerevan, May 2006). Cụ thể hơn, công bố thông tin kế toán (Accounting Disclosures) là toàn bộ thông tin được cung cấp thông qua hệ thống các báo cáo tài chính của một công ty trong thời kỳ nhất định (bao gồm cả các báo cáo giữa niên độ và báo cáo thường niên)3 3 Thực trạng và giải pháp của vấn đề công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam, Đặng Thị Thúy Hằng Luan van 7 Công bố thông tin bao gồm hai loại là các công bố bắt buộc và các công bố tự nguyện hay không bắt buộc. Công bố bắt buộc (Madatory disclosure) là những công bố kế toán được yêu cầu bởi luật pháp và những quy định của một quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ.
Những công bố này phải được tình bày theo những qui định của Luật Kinh Doanh, Uỷ ban chứng khoán, Các cơ quan quản lý về kế toán, GAAP và sự lựa chọn của doanh nghiệp, không bắt buộc. Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin kế toán mà luật pháp không yêu cầu. (2008), công bố tự nguyện chỉ như là các thông tin được cung cấp thêm nhằm thoả mãn nhu cầu của người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp như các nhà phân tích tài chính, các công ty tư vấn, các nhà đầu tư là các tổ chức… Theo xu hướng hiện nay thì các công bố tự nguyện đang thu hút mối quan tâm lớn của người sử dụng thông tin vì tính ảnh hưởng của nó, và các công ty cũng ngày càng được khuyến cáo là sẽ thu được nhiều lợi ích hơn khi công bố các thông tin dạng này. Công bố thông tin là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc công bố hiệu quả các nguồn lực của xã hội và giảm thiểu sự nhiễu loạn thông tin giữa doanh nghiệp và các đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp (Adian, Ion-2008).
Chính vì thế mà mọi nền kinh tế, tác động của hành vi công bố thông tin, đặc biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên các sàn giao dịch chứng khoán là vô cùng to lớn. Ảnh hưởng này không chỉ giới hạn ở tầm vi mô trong tình hình tài chính của từng đơn vị, từng nhà đầu tư mà lan rộng trong cả nền kinh tế. Đó là lý do vì sao mà các nghiên cứu về công bố thông tin, tác động và các yếu tố ảnh hưởng không ngừng được thực hiện bởi các nghiên cứu trên khắp thế giới. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của việc công bố thông tin kế toán đến việc ra quyết định vẫn đã và đang là mối quan tâm của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản trị doanh Luan van 8 nghiệp không chỉ ở các nước phát triển mà còn cả các nước đang phát triển.
Các đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán có thể tiếp cận qua nhiều kênh như website của các doanh nghiệp, báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng,…Nguồn thông tin mà các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý…có thể sử dụng bao gồm một hệ thống đa dạng các báo cáo thường niên, báo cáo công bố thông tin bất thường khi niêm yết, khi tái chào bán chứng khoán hoặc có các sự kiện bất thường xảy ra trong quá trình hoạt động của đơn vị. Theo quan điểm của bộ tài chính Công bố thông tin là sự minh bạch hoá thông tin trên thị trường chứng khoán (Sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết). Thông tin thị trường chứng khoán rất đa dạng và phong phú, thông tin sẽ phản ảnh tình hình tài chính, bản chất của doanh nghiệp, qua đó các nhà đầu tư có thể nhận định, phân tích và đầu tư có hiệu quả. Vì vậy để đảm bảo cho thị trường chứng khoán hoạt động một cách minh bạch, công khai thì thông tin tiết lộ cung cấp của các doanh nghiệp thực hiện một cách công khai, nguyên tắc công khai được hiểu như là sự cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực và kịp thời.
PHÂN LOẠI CÔNG BỐ THÔNG TIN Có thể phân loại thông tin công bố trên thị trường qua nhiều tiêu thức sau 1. Phân loại thông tin theo tính chất bắt buộc hay tự nguyện Thông tin bắt buộc: Là các thông tin phải công bố theo quy định của các văn bản pháp luật của một quốc gia, như Luật Doanh nghiệp, Chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các quy định về công bố thông tin của UBCKNN và SGDCK. Thông tin tự nguyện: Là các thông tin mà các doanh nghiệp niêm yết tự nguyện công bố ngoài các thông tin bắt buộc công bố để các nhà đầu tư, đối Luan van 9 tượng sử dụng thông tin có thể hiểu rõ hơn về tình hình tài chính cũng như hoạt động của doanh nghiệp. Phân loại theo phạm vi bao quát Thông tin đơn lẻ của từng nhóm chứng khoán Thông tin ngành, thông tin nhóm ngành Thông tin nhóm cổ phiếu đại diện và tổng thể thị trường Thông tin của SDGCK hay cả quốc gia, thông tin có tính quốc tế 1.
Phân loại thông tin theo thời gian Thông tin quá khứ, thông tin hiện tại và thông tin dự báo cho tương lai Thông tin theo thời gian (phút, ngày.) Thông tin tổng hợp theo thời gian (tuần, tháng, quý, năm. Phân loại theo nguồn thông tin Thông tin trong nước và quốc tế. Thông tin của các tổ chức tham gia thị trường: Tổ chức niêm yết, công ty chứng khoán và thông tin của SGDCK. Thông tin tư vấn của các tổ chức tư vấn đầu tư và tổ chức xếp hạng tín nhiệm.
Thông tin từ các phương tiện thông tin đại chúng (báo, truyền hình, mạng Internet. YÊU CẦU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN 1. Yêu cầu công bố thông tin kế toán Theo VAS 01: Chuẩn mực chung, quy định rõ các yêu cầu cơ bản đối với kế toán. Thứ nhất là trung thực, các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo trên cơ sở các bằng chứng đầy đủ, khách quan và đúng với thực tế về hiện trạng, bản chất nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Thứ hai là khách quan, các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi Luan van 10 chép và báo cáo đúng với thực tế, không bị xuyên tạc, không bị bóp méo. Thứ ba là đầy đủ, mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh liên quan đến kỳ kế toán phải được ghi chép và báo cáo đầy đủ, không bị bỏ sót. Thứ tư là kịp thời, các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo kịp thời, đúng hoặc trước thời hạn quy định, không được chậm trễ. Thứ năm là dễ hiểu, các thông tin và số liệu kế toán trình bày trong báo cáo tài chính phải rõ ràng, dễ hiểu đối với người sử dụng.
Người sử dụng ở đây được hiểu là người có hiểu biết về kinh doanh, về kinh tế, tài chính, kế toán ở mức trung bình. Thông tin về những vấn đề phức tạp trong báo cáo tài chính phải được giải trình trong phần thuyết minh. Thứ sáu là có thể so sánh, các thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ kế toán trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp chỉ có thể so sánh được khi tính toán và trình bày nhất quán. Trường hợp không nhất quán thì phải giải trình trong phần thuyết minh để người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp hoặc giữa thông tin thực hiện với thông tin dự toán, kế hoạch.
Yêu cầu công bố thông tin trong báo cáo tài chính Theo VAS 01: Chuẩn mực chung cũng quy định rõ các yếu tố cơ bản của báo cáo tài chính. Báo cáo tài chính phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh.
Tình hình tài chính Tài sản Luan van 11 Nợ phải trả Vốn chủ sở hữu Tình hình kinh doanh Doanh thu và Thu nhập khác Chi phí Ghi nhận các yếu tố của báo cáo tài chính Ghi nhận tài sản Ghi nhận nợ phải trả Ghi nhận doanh thu và thu nhập khác Ghi nhận chi phí Bên cạnh chuẩn mực chung quy định các yếu tố của BCTC thì chuẩn mực 21: Trình bày BCTC quy định và hướng dẫn các yêu cầu và nguyên tắc chung về việc lập và trình bày báo cáo tài chính gồm: Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập báo cáo tài chính; kết cấu và nội dung chủ yếu của các báo cáo tài chính.