Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam", chuyên ngành Kế toán (mã số: 62.01), do nghiên cứu sinh Đặng Thị Bích Ngọc thực hiện tại Học viện Tài chính dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Hữu Ánh và PGS.TS. Đào Thị Minh Thanh (bảo vệ năm 2018).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của thị trường chứng khoán trong việc huy động và phân phối các nguồn vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế. Sự vận hành minh bạch, hiệu quả của thị trường đòi hỏi các công ty niêm yết phải cung cấp thông tin trung thực, tin cậy, đầy đủ và kịp thời, trong đó thông tin kế toán trên báo cáo tài chính là nguồn cốt lõi giúp nhà đầu tư đánh giá hiệu quả hoạt động và ra quyết định. Tuy nhiên, thực tiễn tại Việt Nam cho thấy hệ thống quy định pháp lý về công bố thông tin kế toán còn tồn tại kẽ hở, dẫn đến tình trạng công bố sai lệch hoặc chậm trễ, làm tổn hại lợi ích của nhà đầu tư, suy giảm niềm tin và gây sụt giảm chỉ số thị trường (VN-Index). Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các nghiên cứu về công bố thông tin kế toán tại Việt Nam phần lớn mới triển khai trong thời gian gần đây, số lượng công trình còn hạn chế; phương pháp tiếp cận trước đây chủ yếu dừng lại ở định tính hoặc khảo sát mẫu nhỏ; kết quả về các nhân tố tác động chưa thống nhất và dữ liệu nghiên cứu bị giới hạn về thời gian.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là khám phá, tìm hiểu thực trạng mức độ công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014–2016, xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ này và đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác công bố thông tin kế toán.
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác định gồm bốn nội dung:
- Đo lường mức độ công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán.
- Đánh giá mức độ công bố thông tin kế toán của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thời gian qua.
- Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trong báo cáo tài chính của các công ty niêm yết.
- Đề xuất một số khuyến nghị nhằm tăng cường mức độ công bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết, góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam theo hướng bền vững.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được luận án đặt ra gồm ba câu hỏi:
- Đo lường mức độ công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết được thực hiện như thế nào?
- Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chỉ số đo lường mức độ công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết?
- Những khuyến nghị nào cần đề xuất để nâng cao mức độ công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Đối tượng nghiên cứu: Mức độ công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán này.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu mức độ công bố thông tin kế toán qua số lượng các chỉ tiêu được trình bày trên Báo cáo tài chính (BCTC) căn cứ vào khuôn khổ pháp lý hiện hành, trọng tâm là các chuẩn mực kế toán (VAS) và chế độ kế toán doanh nghiệp.
- Phạm vi không gian: Khảo sát các công ty phi tài chính niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX). Luận án loại trừ các định chế tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán, tổ chức tín dụng) do đặc thù riêng biệt về hoạt động kinh doanh, cơ chế quản lý và mẫu biểu hạch toán kế toán.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý chuỗi dữ liệu trong giai đoạn 3 năm tài chính, từ năm 2014 đến năm 2016.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật có hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến công bố thông tin (CBTT) kế toán theo hai nhóm phương diện chính: phương pháp đo lường và các nhân tố ảnh hưởng.
Về phương pháp đo lường mức độ CBTT kế toán, tác giả điểm lại hai hướng tiếp cận chính trên thế giới (theo phân loại của Beattie và cộng sự, 2004):
- Hướng tiếp cận chủ quan (Subjective tools): Sử dụng phương pháp điều tra, phỏng vấn chuyên gia hoặc bảng xếp hạng định lượng hóa nhận thức. Điển hình là các báo cáo đánh giá của FAF, ICFA (sau này hợp nhất thành AIMR, nay là Viện CFA) được dùng làm thước đo trong nghiên cứu của Imhoff (1992), Welker (1995), Lang và Lundholm (1993, 1996), Sengupta (1998), Healy và cộng sự (1999), Botosan và Plumlee (2002). Bảng xếp hạng quản trị công ty của tổ chức CLSA sử dụng thang nhị phân có/không (Krishnamurti và cộng sự, 2005) hoặc phỏng vấn chuyên gia tài chính tại Anh của Coleman và Eccles (1997). Nhược điểm của hướng tiếp cận này được Lang và Lundholm (1993) cùng Healy và cộng sự (1999) chỉ ra là tính chủ quan trong tiêu chí xếp hạng và nguy cơ sai lệch cấu trúc câu hỏi.
- Hướng tiếp cận khách quan (Objective tools): Dựa trực tiếp vào nguồn tài liệu công bố thông qua ba kỹ thuật: phân tích văn bản (Textual analysis) với các nghiên cứu của Krippendorff (1980), Weber (1985), Hackston và Milne (1996), Gray và cộng sự (1995); phân tích sự kiện và tần suất thông tin (Event analysis) như Lang và Lundholm (2000), Brown và cộng sự (2004), Verrecchia (2004), Skinner (1994); và kỹ thuật xây dựng chỉ số công bố thông tin (Disclosure indexes). Chỉ số CBTT bắt nguồn từ Cerf (1961), được mở rộng qua Buzby (1975), Stanga (1976), và công thức hóa bởi Cooke (1989, 1991, 1992). Việc tính toán chỉ số bao gồm phương pháp không trọng số (Cooke, 1989; Wallace, 1987; Ahmed và Nicholls, 1994; Owusu-Ansah, 1998), phương pháp có trọng số (Singhvi và Desai, 1971; Barrett, 1977; Marston, 1986), và phương pháp kết hợp (Francisco và cộng sự, 2009).
Về các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT kế toán trên thế giới, tác giả tổng thuật các nghiên cứu của Healy và Palepu (2001), Heflin và cộng sự (2000), Sui (2001), Chavent và cộng sự (2006). Barako (2007) phân loại các nhân tố thành ba nhóm: quản trị công ty, cấu trúc sở hữu và tính chất công ty. Các công trình thực nghiệm khác gồm: Holtz và Neto (2014) tại Brazil; Michailesco (2010) và Fathi (2013) tại Pháp; Klai và Omri (2011) tại Tunisia; Aljfri (2014) tại UAE; Sartawi và cộng sự (2014) tại Jordan; cùng các tranh luận đối lập về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính và CBTT giữa Jeffrey và Marie, Ahmed và Courtis (1999), Jaggi và Low (2000) với Meek (1995), Wallace (1994) và Zarzeski (1996).
Tại Việt Nam, các nghiên cứu được luận án tổng kết theo bốn mảng chủ đề:
- Mức độ và các nhân tố ảnh hưởng đến CBTT: Đoàn Nguyễn Trang Phương (2010) nghiên cứu CBTT trực tuyến trên website của 50 công ty; Nguyễn Công Phương và cộng sự (2012) xây dựng thang đo chỉ mục cho các công ty niêm yết trên HOSE; Nguyễn Thị Thanh Phương (2012) nghiên cứu 99 công ty trên HOSE; Huỳnh Thị Vân (2013) khảo sát 51 doanh nghiệp xây dựng trên HNX; Ngô Thị Thu Giang (2014) đánh giá CBTT qua tính thông tin, tính cập nhật và tính rõ ràng; Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015) khảo sát 100 công ty trên HOSE.
- Tính minh bạch trong CBTT kế toán: Nguyễn Thị Liên Hoa (2007) đề xuất giải pháp hệ thống số hóa XML; Trần Đình Cung (2007) phân tích định tính về công khai hóa thông tin; Lê Trương Vinh (2008) đo lường minh bạch qua cảm nhận nhà đầu tư; Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) khảo sát thực trạng minh bạch thông tin tài chính qua 8 nhân tố.
- Chất lượng thông tin báo cáo tài chính: Nguyễn Phúc Sinh (2008) về tính hữu ích của BCTC; Nguyễn Trọng Nguyên (2015) đo lường chất lượng BCTC theo đặc tính của FASB và IASB; Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) kiểm định 17 biến tác động đến chất lượng BCTC; Hà Xuân Thạch và Lê Ngọc Hiệp (2011), Đặng Thị Thúy Hằng (2016) khảo sát định tính và định lượng về chất lượng thông tin.
- CBTT gắn với thị trường chứng khoán: Nguyễn Trọng Hoài và Lê An Khang (2008) xây dựng mô hình kinh tế lượng xác định mức độ bất cân xứng thông tin; Lê Trung Thành (2010) đánh giá giám sát giao dịch và hiệu quả thị trường; Đặng Thị Thúy Hằng (2016) khảo sát ảnh hưởng của thông tin kế toán đến quyết định đầu tư.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định và giải quyết:
- Đa phần các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam bị giới hạn về không gian mẫu (chỉ khảo sát riêng sàn HOSE hoặc riêng sàn HNX, hoặc chỉ xét một ngành nghề hẹp) với cỡ mẫu nhỏ (50–100 công ty).
- Kết quả kiểm định các nhân tố ảnh hưởng giữa các công trình trong nước còn nhiều mâu thuẫn, chưa có sự phân tách mạch lạc giữa các nhóm yếu tố quản trị, sở hữu và đặc thù doanh nghiệp.
- Phạm vi thời gian nghiên cứu trước đây đã cũ; luận án lựa chọn khoảng thời gian 2014–2016 nhằm cập nhật dữ liệu thực nghiệm trên toàn bộ 286 công ty phi tài chính niêm yết trên cả hai sở giao dịch HOSE và HNX, áp dụng thống nhất kỹ thuật chỉ số không trọng số của Cooke.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án thiết lập khung lý thuyết giải thích các động cơ và hành vi công bố thông tin kế toán của doanh nghiệp dựa trên ba lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết kinh tế thông tin (Information economics theory): Nhấn mạnh sự tồn tại của hiện tượng bất cân xứng thông tin giữa nhà quản trị nội bộ và các nhà đầu tư bên ngoài. CBTT kế toán là công cụ giảm thiểu sự bất cân xứng này, từ đó giúp giảm chi phí đại diện, giảm rủi ro thanh khoản và hạ thấp chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp.
- Lý thuyết về ảnh hưởng chính trị (Political theory): Doanh nghiệp, đặc biệt là các đơn vị quy mô lớn hoặc có lợi nhuận cao, thường chịu sự giám sát chặt chẽ từ phía chính phủ, cơ quan thuế và công chúng. Việc chủ động gia tăng mức độ công bố thông tin kế toán là phương thức nhằm giải trình tính hợp thức, giảm thiểu các chi phí chính trị và tránh các quy định can thiệp bất lợi từ nhà nước.
- Lý thuyết về chi phí sở hữu (Proprietary costs theory): Giải thích hành vi hạn chế công bố thông tin của doanh nghiệp khi việc công khai các dữ liệu chi tiết (như chính sách giá, biên lợi nhuận, chi phí nghiên cứu) có thể làm lộ bí mật kinh doanh và tạo lợi thế cạnh tranh cho đối thủ trên thị trường.
Về phương pháp đo lường mức độ CBTT kế toán, luận án sử dụng phương pháp chỉ số công bố thông tin không trọng số dựa trên công thức chuẩn của Cooke (1989):
$$I_j = \frac{\sum_{i=1}^{m} d_i}{n}$$
Trong đó:
- $I_j$: Chỉ số công bố thông tin của công ty $j$ ($0 \le I_j \le 1$).
- $d_i = 1$ nếu khoản mục thông tin $i$ được công bố; $d_i = 0$ nếu khoản mục $i$ có nghiệp vụ phát sinh trong kỳ nhưng không được công bố. Trường hợp công ty không có nghiệp vụ phát sinh liên quan đến khoản mục $i$, khoản mục đó sẽ không được tính vào mẫu số.
- $m$: Số lượng khoản mục thông tin thực tế được công bố.
- $n$: Số lượng tối đa các khoản mục thông tin áp dụng cho công ty.
Phương pháp nghiên cứu thực tế của luận án kết hợp định tính và định lượng:
- Phương pháp định tính: Sử dụng kỹ thuật nghiên cứu tài liệu và khảo cứu tình hình thực tiễn hệ thống pháp luật, chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), quy định công bố thông tin của Bộ Tài chính và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) để thiết kế bảng kiểm tra danh mục thông tin (checklist) áp dụng cho BCTC.
- Phương pháp định lượng:
- Phân tích thống kê mô tả nhằm xác định giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của chỉ số CBTT và các biến độc lập qua các năm 2014, 2015, 2016 và giữa hai sàn HOSE, HNX.
- Phân tích hệ số tương quan Pearson và kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập.
- Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến từng bước (Stepwise regression) với 7 mô hình nhằm chọn lọc các biến có ý nghĩa thống kê giải thích mức độ CBTT kế toán, kết hợp kiểm định phương sai ANOVA và kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Toàn bộ quy trình xử lý số liệu được thực hiện trên phần mềm SPSS phiên bản 22.
Bảng tổng hợp khung phương pháp và nguồn dữ liệu của luận án:
| Tiêu chí | Nội dung chi tiết |
|---|---|
| Loại hình nghiên cứu | Kết hợp định tính (xây dựng checklist) và định lượng (chỉ số CBTT, hồi quy đa biến) |
| Công cụ đo lường | Chỉ số không trọng số Cooke (1989) áp dụng cho BCTC |
| Quy mô mẫu | 286 công ty phi tài chính niêm yết (chia theo các nhóm quy mô tài sản) |
| Không gian khảo sát | SGDCK TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và SGDCK Hà Nội (HNX) |
| Thời gian khảo sát | 3 năm tài chính liên tục: 2014, 2015, 2016 |
| Nguồn tư liệu | Báo cáo tài chính kiểm toán, Báo cáo thường niên chính thức của các CTNY |
| Công cụ xử lý | Phần mềm SPSS 22 (thống kê mô tả, tương quan, hồi quy Stepwise, ANOVA) |
Mô hình nghiên cứu định lượng phân tích biến phụ thuộc là Chỉ số CBTT kế toán chịu sự tác động của ba nhóm biến độc lập:
- Nhóm biến quản lý doanh nghiệp: Quy mô Ban giám đốc/HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, sự kiêm nhiệm chức danh Chủ tịch HĐQT và Tổng giám đốc, Ban kiểm soát.
- Nhóm biến cấu trúc sở hữu: Tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, mức độ tập trung vốn của cổ đông lớn, sở hữu của ban điều hành.
- Nhóm biến đặc điểm doanh nghiệp: Quy mô tài sản, đòn bẩy tài chính, tỷ suất sinh lời (ROE, ROA), khả năng thanh toán, thời gian niêm yết, công ty kiểm toán độc lập.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu về công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu học thuật trên thế giới và tại Việt Nam về đo lường mức độ CBTT, các nhân tố chi phối CBTT, tính minh bạch và chất lượng BCTC. Tác giả phân tích điểm mạnh và điểm yếu của từng phương pháp đo lường (chủ quan qua khảo sát ý kiến đối chiếu với khách quan qua phân tích văn bản và chỉ số). Luận án nhận định các nghiên cứu quốc tế thường áp dụng trên thị trường phát triển theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS/IFRS), trong khi nghiên cứu tại Việt Nam còn phân tán, sử dụng quy mô mẫu hạn chế và chưa làm rõ đặc thù của môi trường kinh tế đang phát triển. Chương 1 kết luận bằng việc xác định rõ ba khoảng trống nghiên cứu làm cơ sở cho mục tiêu và phương pháp của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý luận về công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán
Chương 2 trình bày tổng quan về lịch sử hình thành TTCK, địa vị pháp lý của công ty cổ phần theo Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2015 và các điều kiện niêm yết chứng khoán theo Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010). Tác giả làm rõ khái niệm, vai trò, yêu cầu và các tiêu thức phân loại CBTT kế toán:
- Phân loại theo tính chất thông tin: Thông tin bắt buộc (theo quy định chuẩn mực, chế độ kế toán) và thông tin tự nguyện; thông tin tài chính và thông tin phi tài chính.
- Phân loại theo tính chất thời gian: CBTT định kỳ (BCTC quý, bán niên, năm kiểm toán, báo cáo thường niên) và CBTT bất thường (sự kiện ảnh hưởng lớn đến hoạt động).
Chương này đi sâu phân tích ba lý thuyết nền tảng (kinh tế thông tin, ảnh hưởng chính trị, chi phí sở hữu), đồng thời thiết lập khung phân tích hai nhóm nhân tố tác động đến CBTT kế toán: nhóm nhân tố bên trong (quản trị, cấu trúc sở hữu, đặc tính tài chính) và nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp (cơ quan quản lý nhà nước, thị trường vốn, các tổ chức tín dụng).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Chương 3 xây dựng quy trình nghiên cứu chi tiết từ thiết kế nghiên cứu định tính đến mô hình kiểm định định lượng. Tác giả thiết lập hệ thống các giả thuyết nghiên cứu xoay quanh ảnh hưởng của quản lý doanh nghiệp, cấu trúc sở hữu và đặc thù tài chính đến chỉ số CBTT. Quy trình chọn mẫu phi tài chính gồm 286 công ty niêm yết trên cả hai sàn HOSE và HNX được phân bổ theo quy mô tài sản. Chương 3 xây dựng bộ chỉ mục thông tin chuẩn (checklist) dựa trên hệ thống Báo cáo tài chính gồm:
- Bảng cân đối kế toán (BCĐKT) và Thuyết minh BCĐKT (tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu).
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (BCKQKD) và Thuyết minh BCKQKD.
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT).
- Thuyết minh BCTC về đặc điểm hoạt động, kỳ kế toán, đơn vị tiền tệ, chính sách kế toán áp dụng.
- Nhóm các chỉ mục thông tin tự nguyện và thông tin khác.
Phương pháp xử lý dữ liệu được chuẩn hóa thông qua phần mềm SPSS 22 với kỹ thuật hồi quy Stepwise nhằm khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến và tối ưu hóa các biến độc lập tham gia mô hình.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 4 mở đầu bằng việc khái quát thực trạng quản lý và khung pháp lý CBTT kế toán tại Việt Nam gắn với vai trò của UBCKNN, SGDCK TP. Hồ Chí Minh và SGDCK Hà Nội. Trọng tâm của chương gồm hai phần phân tích thực nghiệm:
Thứ nhất, phân tích thực trạng mức độ CBTT kế toán của 286 công ty niêm yết giai đoạn 2014–2016:
- Thống kê mô tả chỉ số CBTT bình quân 3 năm trên hai sàn giao dịch phản ánh thực trạng mức độ công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết đạt mức trung bình, chưa đồng đều giữa các nhóm chỉ mục.
- So sánh chỉ số qua 3 năm (2014, 2015, 2016) cho thấy xu hướng biến động và mức độ cải thiện tính tuân thủ quy định qua thời gian.
- So sánh giữa HOSE và HNX ghi nhận sự khác biệt về chỉ số CBTT bình quân giữa hai sàn giao dịch tập trung, phản ánh tác động từ quy mô vốn và yêu cầu niêm yết của từng sàn.
- Chi tiết mức độ CBTT theo từng báo cáo bộ phận cho thấy: các chỉ mục thông tin cơ bản trên BCĐKT và BCKQKD có tỷ lệ trình bày cao; ngược lại, các chỉ mục thuyết minh chi tiết về chính sách kế toán phức tạp, tài sản dài hạn, BCLCTT và nhóm chỉ mục thông tin tự nguyện có mức độ trình bày thấp.
Thứ hai, phân tích hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số CBTT:
- Thống kê mô tả các biến độc lập và ma trận tương quan chỉ ra các mối liên kết sơ bộ giữa các yếu tố.
- Kết quả hồi quy đa biến theo phương pháp Stepwise qua 7 mô hình (từ Mô hình 1 đến Mô hình 7, tương ứng Bảng 4.20 đến Bảng 4.26) được kiểm định qua bảng phân tích phương sai ANOVA và kiểm định phương sai sai số thay đổi.
- Bảng tổng hợp kết quả kiểm định đối chiếu với các nghiên cứu trước đây (Bảng 4.28 và Bảng 4.29) làm rõ các biến có tác động thuận chiều, ngược chiều hoặc không có ý nghĩa thống kê đến mức độ CBTT kế toán của các công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam.
Chương 5: Các khuyến nghị từ kết quả nghiên cứu
Từ kết quả phân tích thực nghiệm ở Chương 4, Chương 5 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao mức độ CBTT kế toán:
- Khuyến nghị với cơ quan quản lý Nhà nước: Hoàn thiện quy định pháp lý chung về CBTT; bổ sung, hoàn thiện hệ thống Chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) theo hướng tiếp cận chuẩn mực quốc tế (IFRS); quy định chặt chẽ việc trình bày Thuyết minh BCTC; khuyến khích CBTT tự nguyện; nâng cao trách nhiệm của kiểm toán độc lập; tăng cường chế tài xử phạt đối với doanh nghiệp vi phạm và công ty kiểm toán.
- Khuyến nghị với Hiệp hội nghề nghiệp và các Sở Giao dịch chứng khoán: Tăng cường phối hợp đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật trình bày BCTC và giám sát tuân thủ nghĩa vụ báo cáo.
- Khuyến nghị với các công ty niêm yết: Nâng cao nhận thức của ban lãnh đạo về tính minh bạch; hoàn thiện cấu trúc quản trị công ty; chuẩn hóa năng lực chuyên môn và đạo đức của đội ngũ nhân viên kế toán.
- Khuyến nghị với các công ty kiểm toán độc lập và lưu ý dành cho nhà đầu tư khi phân tích, sử dụng thông tin kế toán công bố.
- Trình bày các hạn chế của luận án và định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt học thuật và thực tiễn như sau:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ các lý thuyết nền tảng (lý thuyết kinh tế thông tin, lý thuyết ảnh hưởng chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu) trong việc luận giải hành vi công bố thông tin kế toán của doanh nghiệp niêm yết tại một thị trường chứng khoán mới nổi.
- Chuẩn hóa quy trình và phương pháp xây dựng chỉ số đo lường mức độ CBTT kế toán không trọng số theo phương pháp Cooke, thiết kế bộ chỉ mục phù hợp với hệ thống chuẩn mực và chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam.
- Thiết lập mô hình hồi quy đa biến tích hợp ba nhóm nhân tố: nhóm quản lý doanh nghiệp, nhóm cấu trúc sở hữu và nhóm đặc điểm doanh nghiệp, tạo khung lý thuyết toàn diện để phân tích các yếu tố chi phối CBTT kế toán.
Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về thực trạng CBTT kế toán của 286 công ty phi tài chính niêm yết trên cả hai sàn HOSE và HNX trong chuỗi thời gian 3 năm (2014–2016).
- Nhận diện cụ thể các nhóm khoản mục kế toán có mức độ công bố cao và các khoản mục có mức độ trình bày thấp (đặc biệt là Thuyết minh BCTC và các chỉ mục tự nguyện).
- Xác định rõ mức độ và chiều hướng tác động của từng nhân tố quản trị, sở hữu và đặc trưng tài chính đến chỉ số CBTT qua mô hình Stepwise.
Hệ thống kiến nghị và giải pháp đề xuất từ kết quả nghiên cứu:
- Đối với cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN): Cần rà soát, hoàn thiện khung pháp lý về CBTT trên TTCK; ban hành chuẩn mực kế toán mới tương thích với IFRS; tăng cường yêu cầu công bố chi tiết trên Thuyết minh BCTC; xây dựng hướng dẫn công bố thông tin tự nguyện; siết chặt chế tài xử phạt hành chính và hình sự đối với hành vi che giấu, làm sai lệch số liệu kế toán.
- Đối với các Sở Giao dịch Chứng khoán và Hiệp hội nghề nghiệp: Thiết lập cơ chế kiểm soát chất lượng BCTC trước khi tiếp nhận công bố; tổ chức các chương trình tập huấn chuẩn mực kế toán cho cán bộ doanh nghiệp niêm yết.
- Đối với các công ty niêm yết: Tách bạch rõ quyền sở hữu và quyền điều hành; nâng cao năng lực bộ phận kế toán nội bộ; nhận thức đúng đắn rằng CBTT đầy đủ là công cụ thu hút dòng vốn dài hạn chứ không chỉ là sự tuân thủ thụ động.
- Đối với công ty kiểm toán và nhà đầu tư: Nâng cao tính độc lập của kiểm toán viên khi soát xét BCTC; khuyến nghị nhà đầu tư thận trọng đọc kỹ phần Thuyết minh BCTC và ý kiến kiểm toán thay vì chỉ quan sát các con số tổng hợp trên Bảng cân đối kế toán hay Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án được tác giả xác định dựa trên phạm vi nghiên cứu:
- Giới hạn về đối tượng: Luận án chỉ khảo sát các công ty phi tài chính, loại bỏ nhóm ngân hàng, bảo hiểm, công ty chứng khoán và các tổ chức tài chính khác do sự khác biệt về chế độ kế toán. Do đó, kết quả chưa đại diện cho toàn bộ các thực thể niêm yết trên TTCK Việt Nam.
- Giới hạn về nguồn thông tin: Đề tài chủ yếu tập trung vào thông tin kế toán trình bày trên Báo cáo tài chính năm kiểm toán và Báo cáo thường niên, chưa bao quát toàn diện các kênh CBTT bất thường, thông tin công bố trực tuyến trên trang web doanh nghiệp hoặc thông tin dự báo tài chính ngắn hạn.
- Giới hạn về thời gian dữ liệu: Dữ liệu thực nghiệm được thu thập trong giai đoạn 2014–2016. Khi bối cảnh pháp lý và chuẩn mực kế toán có sự thay đổi sau thời gian này, các kết luận thực nghiệm có thể cần được cập nhật.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng mẫu nghiên cứu sang khối các định chế tài chính bằng cách xây dựng bộ chỉ mục đo lường chuyên biệt cho ngành ngân hàng và bảo hiểm.
- Cập nhật chuỗi dữ liệu sang các giai đoạn tiếp theo để đánh giá tác động của các văn bản pháp luật và thông tư mới về CBTT trên TTCK.
- Áp dụng kết hợp phương pháp chỉ số có trọng số hoặc phương pháp phân tích văn bản chuyên sâu nhằm đo lường cả số lượng lẫn chất lượng thông tin kế toán được công bố.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và thực tiễn:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo phương pháp xây dựng chỉ số công bố thông tin không trọng số của Cooke, kỹ thuật thiết kế bảng kiểm tra danh mục thông tin (checklist) từ BCTC và quy trình hồi quy Stepwise trên phần mềm SPSS.
- Cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Tài chính, UBCKNN): Tham khảo cơ sở thực nghiệm về các khoản mục có mức độ trình bày thấp trên BCTC để ban hành các quy chế bổ sung về thuyết minh tài chính và điều chỉnh chính sách kiểm soát thị trường.
- Ban điều hành và bộ phận kế toán của các công ty niêm yết: Sử dụng bộ chỉ mục của luận án như một công cụ tự đánh giá mức độ tuân thủ quy định CBTT, từ đó cải thiện quy chế công bố thông tin nội bộ.
- Kiểm toán viên độc lập và nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán: Nhận diện các điểm rủi ro thiếu minh bạch trên BCTC của doanh nghiệp niêm yết, đặc biệt là các thông tin liên quan đến chính sách kế toán và thuyết minh tài sản dài hạn.
Phần đáng tham khảo nhất trong luận án là Bảng danh mục các chỉ mục thông tin BCTC tại Chương 3 cùng hệ thống bảng hồi quy Stepwise 7 mô hình tại Chương 4, cung cấp số liệu thực nghiệm chi tiết về hành vi CBTT của doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng công thức nào để đo lường mức độ công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết?
Luận án áp dụng phương pháp đo lường chỉ số công bố thông tin không trọng số do Cooke (1989) thiết lập:
$$I_j = \frac{\sum_{i=1}^{m} d_i}{n}$$
Trong đó, khoản mục $i$ được gán giá trị 1 nếu công ty có công bố, giá trị 0 nếu có nghiệp vụ phát sinh nhưng không công bố, và không tính vào mẫu số nếu công ty không phát sinh nghiệp vụ liên quan đến khoản mục đó.
2. Cỡ mẫu và tiêu chí lựa chọn công ty niêm yết trong nghiên cứu thực nghiệm là gì?
Mẫu nghiên cứu gồm 286 công ty phi tài chính niêm yết trên cả hai sàn giao dịch HOSE và HNX trong giai đoạn 3 năm liên tục từ 2014 đến 2016. Luận án loại trừ toàn bộ các tổ chức tài chính (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, tổ chức tín dụng) do đặc thù riêng biệt về hình thức tổ chức quản lý, hàng hóa dịch vụ tiền tệ và chế độ hạch toán báo cáo tài chính.
3. Các biến độc lập giải thích mức độ CBTT kế toán được phân thành những nhóm nào?
Luận án phân loại các nhân tố ảnh hưởng thành ba nhóm biến độc lập bên trong doanh nghiệp:
- Nhóm quản lý doanh nghiệp (quy mô HĐQT/Ban giám đốc, tính độc lập của HĐQT, sự kiêm nhiệm Chủ tịch và Tổng giám đốc, Ban kiểm soát).
- Nhóm cấu trúc sở hữu (tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu nước ngoài, sở hữu ban quản trị, mức độ tập trung vốn của cổ đông lớn).
- Nhóm đặc điểm doanh nghiệp (quy mô tài sản, đòn bẩy tài chính, mức sinh lời ROE, khả năng thanh toán, thời gian niêm yết, loại công ty kiểm toán).
4. Ba lý thuyết nền tảng nào được sử dụng để giải thích hành vi CBTT của doanh nghiệp?
Tác giả dựa vào ba lý thuyết:
- Lý thuyết kinh tế thông tin (Information economics theory): Giải thích hành vi CBTT nhằm giảm bớt sự bất cân xứng thông tin và hạ thấp chi phí vốn.
- Lý thuyết về ảnh hưởng chính trị (Political theory): Giải thích việc gia tăng CBTT nhằm giảm áp lực thanh tra, giám sát và chi phí can thiệp từ phía chính phủ.
- Lý thuyết về chi phí sở hữu (Proprietary costs theory): Giải thích động cơ hạn chế CBTT nhằm bảo vệ bí mật kinh doanh trước các đối thủ cạnh tranh.
5. Kỹ thuật kinh tế lượng nào được sử dụng để phân tích các mô hình hồi quy tại Chương 4?
Luận án sử dụng kỹ thuật hồi quy tuyến tính đa biến từng bước (Stepwise regression) với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22, xây dựng qua 7 mô hình kế tiếp (từ Mô hình 1 đến Mô hình 7) để lựa chọn các biến có ý nghĩa thống kê tối ưu, đồng thời thực hiện phân tích phương sai ANOVA và kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đặng Thị Bích Ngọc (2018) đã giải quyết toàn diện vấn đề đo lường và xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin kế toán của các công ty niêm yết phi tài chính trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014–2016. Thông qua việc kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết kinh tế thông tin, lý thuyết ảnh hưởng chính trị, lý thuyết chi phí sở hữu với phương pháp chỉ số không trọng số Cooke và mô hình hồi quy Stepwise trên 286 doanh nghiệp, công trình cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về thực trạng công bố thông tin kế toán trên hai sàn HOSE và HNX. Các kết quả nghiên cứu và hệ thống khuyến nghị 5 nhóm đối tượng tại Chương 5 đóng góp cơ sở khoa học thiết thực cho công tác hoàn thiện chuẩn mực kế toán và nâng cao tính minh bạch của thị trường vốn Việt Nam.