PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Toàn cầu hóa đã có tác động sâu và mạnh mẽ tới nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO (năm 2007), các Hiệp định Thương mại tự do FTA, Cộng đồng kinh tế ASEAN AEC của Việt Nam đã buộc doanh nghiệp phải đối mặt với không chỉ những cơ hội lớn mà còn vô vàn các thách thức cần vượt qua. Tham gia vào sân chơi quốc tế buộc các doanh nghiệp cần tuân thủ các quy tắc cạnh tranh khốc liệt, đặc biệt đối với các doanh nghiệp dệt may thời trang- ngành mà 80% nguyên phụ liệu sản xuất là nhập khẩu và sản xuất mang nặng tính gia công, 60% thị trường xuất khẩu trong tay các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Trong giai đoạn mà lĩnh vực dệt may thời trang đang ngày một phát triển, thị trường ngành này lại càng cạnh tranh gay gắt, để có thể tồn tại và phát triển bền vững, các doanh nghiệp đang không ngừng tìm cách nâng cao năng lực cạnh tranh của bản thân.Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các nhân tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo Porter (1990) [39], năng suất lao động là thức đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Vì vậy có thể kết luận rằng, cải thiện năng suất lao động, hay cải thiện kết quả thực hiện công việc của người lao động là một trong những cách hiệu quả để tăng cường năng lực cạnh tranh của tổ chức. Kết quả thực hiện công việc của người lao động chịu tác động lớn bởi sự hài lòng công việc của người lao động.
Có rất nhiều các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước làm rõ mối liên hệ này. Theo Panagiotis Trivellas, Nikolaos Kakkos, Nikos Blanas, Ilias Santouridis (2015) [38], trong bài viết có tiêu đề: Ảnh hưởng của sự hài lòng công việc đến kết quả thực hiện công việc trong công ty kế toán, đăng trên tạp chí Procedia Economics and Finance, số 33, trang 468- 476 đã kết luận, sự hài lòng công việc là nhân tố tác động trực tiếp tới kết quả thực hiện công việc của người lao động trong công ty này. Hay như trong nghiên cứu của Ch. Zimeras (2015) [21] trong bài viết:Tác động của sự hài lòng tới kết quả 2 công việc của người lao động trong các tổ chức dịch vụ về sức khỏe, đăng trên tạp chí Procedia - Social and Behavioral Sciences, số 175, trang 480- 487, kết luận rằng, phần lớn các nhân tố thuộc sự hài lòng công việc như sự hài lòng về môi trường làm việc chuyên nghiệp, chính sách thù lao… đều tác động mạnh tới kết quả thực hiện công việc của tổ chức… Công ty Cổ phần Thời trang Bionline là một công ty vừa và nhỏ, quy mô 205 lao động, hoạt động trong lĩnh vực thời trang nam, chủ yếu kinh doanh hàng thời trang công sở.
Công ty thành lập từ năm 2011, nguồn vốn nhỏ, khả năng cạnh tranh về vốn, thương hiệu, uy tín thị trường không thể bằng được các thương hiệu thời trang nam công sở lâu đời như May 10, Việt Tiến, Nhà Bè… Để có thể đứng vững trên thị trường, công ty hướng tới xây dựng hình ảnh một thương hiệu thời trang nam công sở đơn giản, lịch lãm, đa dạng về chất lượng và mẫu mã, giá cả phải chăng.Giá bán sản phẩm được định giá ở phân khúc rẻ và trung bình. Muốn thực hiện điều này nhưng chất lượng sản phẩm không thay đổi, thậm chí phải tăng lên, công ty buộc phải tìm cách giảm giá thành sản xuất bằng cách nâng cao năng suất làm việc, cũng chính là kết quả thực hiện công việc của cả lao động trực tiếp và gián tiếp. Một trong những nỗ lực hiện tại của công ty là tăng cường sự hài lòng cho nhân viên. Ban lãnh đạo công ty thường xuyên đưa ra các chính sách thưởng hậu hĩnh cho nhân viên hoàn thành vượt chỉ tiêu, đảm bảo đầy đủ các phúc lợi bắt buộc và có thêm phúc lợi tự nguyện cho nhân viên… Tuy chính sách công ty xây dựng là vậy nhưng trong cuộc khảo sát định kì hàng năm, rất nhiều nhân viên cho rằng mình chưa hài lòng với công việc hiện tại.
Công ty chưa tìm hiểu và nắm bắt được sự hài lòng đối với công việc của người lao động phụ thuộc vào những gì. Một số người lao động đã rời bỏ công ty, khi được hỏi lí do, họ trả lời rằng: “Do chưa hài lòng với một số nhân tố”. Vậy thì có nhữngnhân tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của người lao động công tác tại công ty Cổ phần Thời trang Bionline, và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này như thế nào? Nhận thấy rằng việc nghiên cứu kĩ hơn về các nhân tố tác động tới sự hài lòng trong công việc của người lao động tại Công ty Cổ phần Thời trang Bionline là 3 một đề tài tương đối cụ thể, mới mẻ, trước đó chưa có nghiên cứu trong ngành dệt may thời trang ở Việt Nam về vấn đề này, tác giả đã lựa chọn nội dung này làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Sự hài lòng công việc và các nhân tố tác động đến sự hài lòng công việc của người lao động - Khách thể nghiên cứu: Người lao động Công ty Cổ phần Thời trang Bionline - Phạm vi nghiên cứu: + Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2013- 2017.
+ Không gian nghiên cứu: Công ty Cổ phần Thời trang Bionline 3. Mục tiêu nghiên cứu - Hệ thống hóa lí thuyết và các nghiên cứu trước đó về các nhân tốgây ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc. - Tìm hiểu thực trạng hài lòng hiện tại của người lao động tại công ty, mức độ tác động của từng nhân tố đối với sự hài lòng công việc? Ngược chiều, hay thuận chiều? Và tác động nhiều hay ít? - Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường sự hài lòng công việc cho nhân viên công ty. Câu hỏi nghiên cứu - Với mục tiêu và phạm vi nghiên cứu đã trình bày, bài viết sẽ trả lời 3 câu hỏi: + Sự hài lòng công việc hiện tại của người lao động đang ở mức nào? + Các nhân tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng công việc? + Mức độ tác động của từng nhân tố? 5.
Phƣơng pháp nghiên cứu 5. Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, kết hợp phương pháp định tính.Phương pháp nghiên cứu định tính được tiến hành bằng cách hỏi ý kiến 4 chuyên gia (các chuyên viên của công ty), qua đó đề xuất mô hình nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả dự định sẽ tiến hành phỏng vấn sâu 20 người lao động của công ty nhằm hiệu chỉnh lại thang đo cho phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp. Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử dụng là: tiến hành khảo sát và phân tích dữ liệu thu được bằng phần mềm SPSS 20 để kiểm định độ tin cậy của thang đo,phân tích nhân tố EFA để nhóm các nhân tố thành các nhóm thỏa mãn giá trị hội tụ và giá trị phân biệt.
Phân tích tương quan sẽ chỉ ra những biến độc lập nào có mối quan hệ với biến phụ thuộc, sau đó phân tích hồi quy đa biến để kiểm định sự phù hợp của mô hình bằng việc xác định mức độ tác động của các biến độc lập sự hài lòng của nhân viên. Phƣơng pháp thu thập dữ liệu 5. Các phương pháp thu thập dữ liệu được sử dụng - Dữ liệu sơ cấp: + Phỏng vấn sâu: 20 người lao động + Điều tra bằng phiếu khảo sát - Dữ liệu thứ cấp: + Các dữ liệu về số lao động, tổng quỹ lương, lương trung bình lấy từ các báo cáo của phòng nhân sự. + Dữ liệu từ báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, mục tiêu chiến lược và định hướng phát triển của công ty.
+ Các giáo trình, tài liệu về quản trị nhân lực, các tạp chí, luận văn của các tác giả trong và ngoài nước. Tổng thể và chọn mẫu Tổng thể: Tổng thể của khảo sát là toàn bộ nhân viên làm việc tại Công ty Cổ phần Thời trang Bionline. Phương pháp chọn mẫu:Tác giả khảo sát 100% người lao động thuộc công ty. Quy mô mẫu: 205 lao động.
Thu thập thông tin Bảng khảo sát được thiết kế bằng ứng dụng Google Documents. Đối với khối văn phòng và cửa hàng, tác giả sẽ gửi link Google docs qua email, với xưởng sản xuất, bảng khảo sát sẽ được in ra từ bảng khảo sát online và chuyển đến tận tay người lao động. Sau khi thu thập thông tin từ bảng khảo sát, dữ liệu sẽ được lưu lại trên excel, sau đó mã hóa, làm sạch dữ liệu. Phần mềm SPSS được sử dụng để xử lý và phân tích các dữ liệu này.
Tổng quan các công trình nghiên cứu trƣớc đó Để tìm hiểu đề tài này, tác giả có tham khảo một số nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước trước đó. Một số các nghiên cứu của tác giả Việt Nam như: Trongkhối dịch vụ, có các nghiên cứu của Phan Thị Minh Lý (2011), Phạm Thị Hải Hà (2014). Ngành nghiên cứu của cả hai tác giả là ngân hàng thương mại. Cụ thể: “Tác giả Phan Thị Minh Lý (2011) [5] đề cập đến trong bài viết về “Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng về công việc của nhân viên trong các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”, đăng trên tạp chí Khoa học và Công nghệ- Đại học Đà Nẵng- số 3(44), mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh của tác giả cho thấy các nhân tố tác động đến sự hài lòng của nhân viên gồm:“Tính chất và áp lực công việc, Thu nhập và các chế độ đãi ngộ, Quan hệ và đối xử, Triển vọng phát triển của ngân hàng và năng lực lãnh đạo, Điều kiện làm việc, Cơ hội thăng tiến.”Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng, nhân viên ngân hàng hài lòng nhất với nhân tố Điều kiện làm việc, nhưng nhân tố Thu nhập và chế độ đãi ngộ lại tác động nhiều nhất đến sự hài lòng, nhân tố này giải thích cho 21,5% biến thiên của sự hài lòng.”Nghiên cứu này tác giả có sử dụng một nhân tố mà các nghiên cứu khác ít quan tâm, đó là: Triển vọng phát triển của ngân hàng, các nhân tố còn lại không có gì khác biệt so với các ngành dịch vụ và sản xuất khác.