Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3:Thiết kế nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Thực trạng ngành nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau 2.1 Tổng quan địa bàn nghiên cứu Vị trí địa lý Cà Mau là tỉnh cực nam của tổ quốc.211 km2, bằng 1,58% diện tích cả nước và bằng 13,1% diện tích vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Là một bán đảo, tiếp giáp cả biển Đông và biển Tây, chiều dài bờ biển 254 km, chiếm 7,8% chiều dài bờ biển cả nước (bờ biển Đông dài 107 km, bờ biển Tây dài 147 km), diện tích ngư trường rộng trên 80.000 km2, tiếp giáp với vùng biển của các nước: Thái Lan, Malaysia và Indonesia. Có nhiều cụm đảo: Hòn Đá Bạc, Hòn Chuối, Hòn Buông thuộc biển Tây, Hòn Khoai thuộc biển Đông.
Cà Mau tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang ở phía Bắc, tỉnh Bạc Liêu ở phía Đông, còn lại là tiếp giáp với biển. Đất đai và địa hình Về đất đai: Đất ở Cà Mau được phân loại thành 6 nhóm. Trong đó, 91,41% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh là đất phèn và đất mặn, nhóm đất phèn chiếm diện tích lớn nhất là 268.843 ha (50,77%), kế đến là nhóm đất mặn chiếm 215. Các nhóm đất than bùn phân bố dưới rừng tràm ở vùng trũng U Minh, đất bãi bồi, đất cát phân bố ở ven bờ biển và đất đỏ vàng phân bố ở ngoài các cụm đảo chỉ chiếm diện tích nhỏ (khoảng 4,30%), 4,29% diện tích còn lại là sông rạch.
Điều kiện đất đai tỉnh Cà Mau khá phù hợp cho việc phát triển nuôi tôm nói riêng và nuôi các loài thủy sản nước lợ nói chung. Về địa hình Cà Mau là vùng đồng bằng, có nhiều sông rạch. Địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, nghiêng dần từ Bắc xuống Nam, từ Đông Bắc xuống Tây Nam, độ cao bình quân từ 0,5 m đến 1,5 m so với mực nước biển. Địa hình của tỉnh còn bị chia cắt nhiều bởi hệ thống sông rạch chằng chịt, đây là điều kiện vừa có mặt thuận lợi cũng vừa có mặt bất lợi cho phân bổ nguồn nước cho phát triển sản xuất, trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đó có nuôi tôm của tỉnh.
(Báo cáo tổng kết dự án Quy hoạch tài nguyên nước mặt tỉnh Cà Mau đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2045) Thủy văn Cà Mau chịu tác động trực tiếp của hai chế độ thủy triều: Bán nhật triều không đều ở biển Đông và nhật triều không đều ở biển Tây. Do ảnh hưởng của 2 chế độ thủy triều và có nhiều cửa sông ăn thông ra biển nên phần lớn diện tích đất liền của tỉnh đã bị nhiễm mặn và chế độ thủy triều rất phức tạp. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu Cà Mau là một trong 5 tỉnh của Việt Nam bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và là một trong ba tỉnh dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng. Tác động của biến đổi khí hậu đối với Cà Mau là rất nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất, làm thay đổi cơ cấu ngành nghề.
Gây xói lở bờ biển và sạt lở bờ sông: Cả hai bờ biển Đông và Tây tình hình xói lở xảy ra rất nghiêm trọng, tốc độ xói lở trung bình hàng năm từ 20-30 m, với chiều dài đến vài chục kilomet, làm mất rừng phòng hộ ven biển, đặc biệt một số đoạn đã lở đến đê. Tỉnh phải tổ chức cứu hộ đê khẩn cấp trên rất nhiều khu vực, tốn kém kinh phí khá lớn. Nếu không có những giải pháp hợp lý, thậm chí Mũi Cà Mau có khả năng mất cả biểu tượng và cột mốc Quốc gia do sạt lở. Trên các tuyến sông lớn tình hình sạt lở cũng diễn ra rất phức tạp, gây thiệt hại lớn đến tài sản, đời sống và tình hình sản xuất của người dân.
Về xâm nhập mặn: Do ảnh hưởng của nắng hạn, tình hình xâm nhập mặn có chiều hướng gia tăng. Hàng năm, vào cao điểm mùa khô, xâm nhập mặn diễn ra gay gắt, tất cả các tuyến sông rạch độ mặn tăng cao, bình thường từ 20-30‰, đặc biệt vào mùa khô năm 2016, do ảnh hưởng của El Nino nên độ mặn tăng lên đến 40- 45‰. Độ mặn trên các tuyến sông tăng cao nên việc thay đổi nước cho ao, đầm nuôi tôm không thể thực hiện, gây thiệt hại lớn đến nghề nuôi tôm của tỉnh. Về điều kiện kinh tế - xã hội Về kinh tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) năm 2016 (theo giá hiện hành): Đạt 44.696,94 tỷ đồng; trong đó: Khu vực ngư, nông, lâm nghiệp đạt 13.705,91 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 30,66%; khu vực công nghiệp, xây dựng đạt 11.382,28 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 25,47%; khu vực thương mại, dịch vụ đạt 17.892,72 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 40,03%; thuế sản phẩm đạt 1.716,03 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,84%.
GRDP bình quân đầ u người giai đoa ̣n 2009 – 2015 tăng 7,62%/năm (từ 1.030 USD/người/năm lên 1. Tuy nhiên, thu nhâ ̣p bình quân đầ u người của tỉnh vẫn ở mức thấ p so với mă ̣t bằ ng chung cả nước, năm 2015 GDP bình quân đầ u người của cả nước đa ̣t 2. Trong ngành thủy sản thì nuôi trồng thủy sản đóng vai trò chủ đa ̣o, chiế m 77% cơ cấ u ngành (chủ yếu từ nuôi tôm), khai thác thủy sản chiế m 17%, dich ̣ vu ̣ thủy sản chiế m 6%. Về xã hội Dân số tỉnh Cà Mau năm 2015 là 1.821 người: Trong đó nam có 615.846 người (50,52%) và nữ có 612.835 người trong độ tuổi lao động.
Trong đó, tốt nghiệp Cao đẳng trở lên: 17.198 người, tốt nghiệp trung cấp, dạy nghề: 42.802 người, đào tạo nghề: 133.965 người, lao động phổ thông: 649. Chất lượng lao động qua đào tạo còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng đủ các tiêu chuẩn chất lượng của nhà tuyển dụng. Kết cấu hạ tầng phục vụ nuôi trồng thủy sản Thủy lợi Cà Mau có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt. Có nhiều kênh trục lớn, và hệ thống kênh cấp 1, cấp 2, kênh nội đồng, tạo nên mạng lưới sông ngòi dày đặc nối thông với nhau và thông ra biển, thuận lợi cho việc cấp, thoát nước phục vụ cho phát triển sản xuất.
Về quy hoạch thủy lợi của tỉnh, chia thành hai vùng sản xuất có hệ sinh thái đặc trưng như sau: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 - Vùng Nam Cà Mau: Quy hoạch thủy lợi phục vụ chủ yếu cho nuôi tôm. Chia thành 18 tiểu vùng, với 323. Hiện tỉnh đã phê duyệt 15/18 dự án đầu tư hệ thống thủy lợi, đang đầu tư cho 05 tiểu vùng. - Vùng Bắc Cà Mau: Quy hoạch thủy lợi phục vụ sản xuất hệ sinh thái ngọt: Chia làm 05 tiểu vùng, với 206.
Hiện có 02 tiểu vùng được khép kín giữ ngọt triệt để (Tiểu vùng II và Tiểu vùng III thuộc huyện U Minh và Trần Văn Thời). Mặc dù chưa đầu tư hoàn thiện nhưng bước đầu đem lại hiệu quả khá tốt. Thời gian qua, trên cơ sở quy hoạch được duyệt, tỉnh đã tập trung các nguồn lực để đầu tư hệ thống thủy lợi. Từ các nguồn vốn trái phiếu Chính phủ, vốn hạ tầng thủy sản, vốn ODA,… tỉnh đã bố trí thực hiện các dự án để khép kín các tiểu vùng.
Tuy nhiên, do nguồn kinh phí có hạn nên các dự án hầu hết chưa được đầu tư hoàn chỉnh, chưa có tiểu vùng nào được khép kín, chưa phát huy được hiệu quả. Ngoài ra còn tập trung nạo vét các kênh trục, kênh cấp 1, cấp 2 để phục vụ cho việc cấp, thoát nước. Thủy lợi phục vụ nuôi tôm còn một số tồn tại: Không có hệ thống cấp, thoát nước riêng biệt; năng lực cấp, thoát nước rất hạn chế, nên việc ô nhiễm nguồn nước, lây lan dịch bệnh rất dễ xảy ra; các công trình thủy lợi phục vụ cho nuôi tôm chưa đồng bộ, chưa đảm bảo chủ động lấy nước để phục vụ sản xuất, thiếu nguồn nước ngọt bổ sung. Một số khu vực chưa phân ranh rõ ràng giữa vùng nuôi tôm và trồng lúa dẫn đến xung đột trong sản xuất; do tốc đô ̣ bồ i lắng nhanh nên hê ̣ thố ng kênh ra ̣ch không thể đáp ứng nhu cầ u cấ p, thoát nước cho nuôi tôm rất khó khăn cho sản xuất, đặc biệt là tình trạng thiếu nước cho sản xuất ở những vùng nằm sâu trong nội đồng.
Giao thông Giao thông bộ, có 3 tuyến quốc lộ đi qua, với tổng chiều dài 119,3 km, tỷ lệ nhựa hóa đạt 100%; 11 tuyến tỉnh lộ với tổng chiều dài là 267,9 km, tỷ lệ nhựa hóa đạt 98,1%; 97 tuyến đường huyện với tổng chiều dài là 976,4 km, tỷ lệ nhựa cứng hóa đạt 64,8%; 287 tuyến đường đô thị dài 228,9 km bao gồm các tuyến đường nội LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 ô thành phố Cà Mau và đường thị trấn đã được nhựa (cứng) hóa đạt 99,8%; đường giao thông nông thôn có 1.962 tuyến với tổng chiều dài 10.844,5 km, tỷ lệ cứng hóa đạt 35%. Giao thông thủy: Hệ thống giao thông đường thủy khá phát triển. Vận tải đường thủy chiếm tỷ trọng lớn hơn so với đường bộ. Toàn tỉnh có 57 tuyến, dài 1.
Trong đó: 12 tuyến/261,7km do trung ương quản lý; 12 tuyến/349,0km do tỉnh quản lý; 33 tuyến/559,5km do huyện quản lý. Ngoài ra còn khoảng 7.000 km các tuyến sông, kênh có khả năng khai thác vận tải thủy, chủ yếu phục vụ vận chuyển nông sản hoặc hàng hóa nhỏ lẻ của người dân. Tuy nhiên việc hạn chế vận tải bằng đường bộ cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến vận chuyển hàng hóa, kết nối giao thương, đi lại đối với các Doanh nghiệp và người dân. Thực trạng ngành nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau Về sản xuất, cung ứng giống Về năng lực sản xuất giống: Trong tỉnh có hơn 800 cơ sở sản xuất giống (chủ yếu tôm giống), sản xuất từ8-9 tỷ con giống/năm, đáp ứng khoảng 45% nhu cầu nuôi trong tỉnh, chủ yếu là tôm sú.
Có hơn 80% là các cơ sở nhỏ lẻ, nằm phân tán tại các địa bàn, chủ yếu ở ba huyện Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển, điều kiện cơ sở không đáp ứng các quy định, rất khó khăn trong quản lý. Kỹ thuật viên có chuyên môn cao không nhiều (khoảng 20%), số còn lại chỉ được tập huấn ngắn hạn.Việc hạn chế về trình độ kỹ thuật đã ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng tôm giống sản xuất trong tỉnh.