Lời mở đầu Chương 2: Cơ sở thuyết về hiệu quả hoạt động tài chính doanh nghiệp Chương 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tài chính DN ngành thực phẩm và đồ uống tại Việt Nam Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và khuyến nghị 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NGÀNH THỰC PHẨM VÀ ĐỒ UỐNG VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NÓ Trong chương này, bài nghiên cứu đi sơ qua cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và các nhân tố tác ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cùng với một số giả thuyết nghiên cứu. Phần cuối chương tác giả đề cập đến một số đặc trưng của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống. Cở sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh 2. Khái niệm Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xuất phát từ khái niệm hiệu quả kinh doanh, phản ánh quan điểm của quản lý chiến lược và là một cấu phần của hiệu quả tổ chức (Venkatran & Ramanujan, 1986).
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm hiệu quả kinh doanh. Paul Samuelson (1991) cho rằng: “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng của một lượng hàng hóa mà không cắt giảm sản lượng của một loại hàng hóa khác. Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trong giới hạn khả năng sản xuất của nó". Xuất phát điểm của hướng tiếp cận nảy đề cập tới khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực kinh tế với mục tiêu đạt được việc sử dụng mọi nguồn lực trên đường giới hạn khả năng sản xuất , từ đó làm cho nền kinh tế có hiệu quả.
Rõ ràng là, với xuất phát điểm như trên , mức hiệu quả này là hiệu quả cao nhất mà mỗi nển kinh tế có thể đạt được vì năng lực sản xuất của mọi doanh nghiệp đều là có giới hạn. Một số nhà quản trị học lại quan niệm hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỳ số giữa kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nhà kinh tế học người Đức, Manfred Kuhn (1991) cho rằng: “Tính hiệu quả cao được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. Ngoài ra, còn có quan điểm cho rằng “Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa.
Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo mục tiêu nhất định” (Nguyễn Đình Giao, 1997). Theo định nghĩa này, bản chất phạm trù hiệu quả và những nhân tố tổng hợp thành vận động theo những hướng khác nhau, nhất là trong những hình thái xã hội có quan hệ sản xuất khác nhau. Định nghĩa này 5 cũng đã phản ánh mối quan hệ tương quan giữ kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó. Xét về bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau cũng có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề hiểu như thế nào về hiệu quả kinh doanh.
Nhà kinh tế học Adam Smith(1976) cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Như vậy, có thể hiểu rằng hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả hoạt động có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả. Quan điểm của Coellied al.
(2005) lại cho rằng: “Hiệu quả kinh doanh có thể xác định theo nhiều cách, thước đo để đo hiệu quả là một tỷ lệ giữa đầu ra và đầu vào". Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân. Nhưng khó khăn ở đây là phương tiện để đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó. Đo lường Để đo lường hiệu quả hoạt động có rất nhiều cách xuất phát từ các hướng tiếp cận khác nhau.
Nhìn chung có hai hướng tiếp cận phổ biến trong đo lường: Thứ nhất, hướng tiếp cận mục tiêu cho rằng tuỳ thuộc vào mục tiêu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn mà hiệu quả hoạt động được hiểu là hiệu quả tài chính hay hiệu quả phi tài chính. Đối với các doanh nghiệp có mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận thì hiệu quả được đo lường bằng các chỉ số tài chính, hay hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng là hiệu quả tài chính. Đối với các doanh nghiệp không đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết thì hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo lường bằng các yếu tố phi tài chính như hiệu quả quản lý, hiệu quả xã hội. Thứ hai, hướng tiếp cận theo hệ thống.
Hướng này theo quan điểm hiệu quả phải là hiệu quả của hệ thống được đo lường bằng tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp gộp lại như: phòng bán hàng, phòng chăm sóc khách hàng, phòng quản lý,… Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng cách thứ nhất để chọn ra nhân tố đại diện cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tác giả chọn cách này vì các doanh nghiệp niêm yết, mục tiêu vì lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu của họ. Mục tiêu 6 đó cũng là mục tiêu trung gian giúp chủ sở hữu đạt được mục tiêu tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Ngoài ra, do ban giám đốc của doanh nghiệp cũng theo đuổi mục tiêu lợi nhuận nhằm đạt được các khoản thưởng thủ lao và qua đó tối đa hóa lợi ích của mình theo lý thuyết đại diện.
Do đó, cách tiếp cận hiệu quả hoạt động từ khía cạnh hiệu quả tài chính của doanh nghiệp trong bài nghiên cứu này là hợp lí. Trên thực tế có rất nhiều chỉ tiêu về đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong phạm vi bài viết này, tác giả lựa chọn nhóm các chỉ tiêu dựa trên cơ sở kế toán là: ROA – Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và ROE – Tỷ suất sinh lời của vốn chủ sở hữu làm thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ngành thực phẩm và đồ uống được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam. Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): Tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (tiếng Anh: Return on assets, viết tắt: ROA) là một chỉ số rất quan trọng đối với một doanh nghiệp, nó giúp cho nhà quản trị đánh giá được mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản trong doanh nghiệp. Tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp.
Chỉ số này cho thấy một doanh nghiệp sử dụng tài sản của mình hiệu quản đến mức nào, bằng cách thể hiện mức độ lợi nhuận của doanh nghiệp so với tài sản của chính nó. ROA tăng là tốt nếu doanh nghiệp mở rộng sản xuất, tăng vốn chủ sở hữu và giảm nợ vay làm giảm chi phí lãi vay nên lợi nhuận thu được sẽ tăng. ROA tăng là dấu hiệu không tốt, thể hiện doanh nghiệp đang hoạt động kém hiệu quả nếu doanh nghiệp đang giảm nợ vay do thu hẹp sản xuất kinh doanh dẫn đến doanh thu và lợi nhuận giảm nhưng giảm thấp hơn tốc độ giảm tổng tài sản. Ngoài ra việc doanh nghiệp tăng nợ vay, vốn chủ sở hữu giảm do kinh doanh lỗ vốn, hoặc hoạt động kinh doanh mở rộng nhưng đầu tư vào những lĩnh vực kém hiệu quả gây ra không tăng lợi nhuận mà còn giảm so với trước đó cũng là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang hoạt động kém hiệu quả.
ROA được tính bằng công thức: Lợi nhuận sau thuế 𝑅𝑂𝐴 = 𝑥100% Tổng tài sản bình quân 7 Vì tổng tài sản là giá trị luôn dương, do đó nếu ROA dương có nghĩa là doanh nghiệp hoạt động có lãi. Ngược lại ROA âm thì doanh nghiệp đang lỗ. Chỉ số ROA càng cao thì hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng tốt. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE-Return on equity) Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Nếu 𝑅𝑂𝐸 > 0 và càng cao cho thấy doanh nghiệp đang tạo được lợi nhuận trên số vốn của mình, quy mô vốn tự có ngày càng tăng, làm giảm mức độ rủi ro của doanh nghiệp và ngược lại. Việc tạo ra một chỉ số ROE hợp lý giúp cho doanh nghiệp duy trì được việc trả cổ tức cho cổ đông, duy trì tỷ lệ lợi nhuận giữ lại hợp lý cho sự phát triển của doanh nghiệp, tránh việc huy động vốn với chi phí cao từ bên ngoài, tạo hiệu ứng tốt thu hút đối tác và các nhà đầu tư. ROE tăng là dấu hiệu tốt khi vốn chủ sở hữu không bị giảm mà còn tăng. ROE tăng là dấu hiệu không tốt khi doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ, thu hẹp sản xuất dẫn đến doanh thu lợi nhuận giảm nên vốn chủ sở hữu giảm nhiều hơn lợi nhuận.
Công thức tính ROE: Lợi nhuận sau thuế 𝑅𝑂𝐸 = 𝑥100% Vốn chủ sở hữu bình quân Mối liên hệ giữa ROA và ROE Cả ROA và ROE là các thước đo về cách một doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực của mình. Về cơ bản, ROE chỉ đo lường lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, không tính đến các khoản nợ, trong khi đó ROA có tính đến yếu tố này. Doanh nghiệp càng sử dụng nhiều đòn bẩy và nợ, ROE của doanh nghiệp sẽ tăng lên lớn hơn ROA vì khi đó tổng tài sản tăng và tỷ lệ chủ sở hữu bị thu hẹp. ROE của một doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố: khả năng sinh lời từ tài sản của doanh nghiệp đó và quy mô tài sản của doanh nghiệp như thế nào so với vốn đầu tư của chủ sở hữu.
Để hiểu tác động của hai yếu tố này, ROE có thể được phân tách thành lợi nhuận trên tài sản (ROA) và thước đo đòn bẩy tài chính (hệ số tài sản trên vốn chủ sở hữu – EM) như sau: 8 𝑅𝑂𝐸 = 𝑅𝑂𝐴 𝑥 𝐸𝑀 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 = 𝑥 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 𝐿ợ𝑖 𝑛ℎ𝑢ậ𝑛 𝑟ò𝑛𝑔 𝑁ợ 𝑝ℎả𝑖 𝑡𝑟ả = 𝑥(1 + ) 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑉ố𝑛 𝑐ℎủ 𝑠ở ℎữ𝑢 2.