CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÝ THUYẾT NGƯỜI ĐẠI DIỆN VÀ CHI PHÍ ĐẠI DIỆN CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1.1 Lý thuyết người đại diện Với xu hướng phát triển của loại hình công ty cổ phần, vấn đề người đại diện (Agency Issues) tuy không mới nhưng vẫn rất đáng lưu tâm với các nhà quản trị nói chung và chủ doanh nghiệp nói riêng. Trên giác độ xã hội học, Susan P.Shapiro (2005) mô tả mối quan hệ đại diện (agency relationship) thông qua việc một cá nhân hành động thay mặt cho một cá nhân khác. Tác giả cho rằng, nghiên cứu về vấn đề đại diện có thể rất hữu ích không chỉ trong việc giải quyết mâu thuẫn trong các mối quan hệ kinh tế mà còn có tính ứng dụng trong các mối quan hệ xã hội và chính trị. Tuy nhiên, trong lĩnh vực xã hội học, nội dung về vấn đề đại diện vẫn còn bỏ ngỏ bởi các học giả, nhất là trên khía cạnh thực nghiệm.
Trong khi đó, vấn đề đại diện trong xã hội đã tồn tại cùng dòng chảy lịch sử từ thế kỷ XVII, XVIII khi mà chủ nghĩa thực dân châu Âu bắt đầu phát triển hay nhà nước Trung Hoa hiện đại hóa nông nghiệp phải giải quyết các mối quan hệ căng thẳng do mâu thuẫn về mặt lợi ích, sự bất cân xứng về truyển đạt thông tin, chủ nghĩa cơ hội giữa người sở hữu với người đại diện của nhà nước. Khi cấu trúc xã hội thay đổi với các cấu trúc hành chính khác nhau, vấn đề người đại diện mà ở đó có sự khác nhau về cách mà chủ sở hữu lựa chọn người đại diện, công tác giám sát, xử phạt, khích lệ và cả chi phí về vấn đề đại diện cũng thay đổi theo. Trên giác độ kinh tế học, theo dòng chảy lịch sử, lý thuyết người đại diện bắt đầu nổi lên thành một hướng nghiên cứu thu hút các học giả từ những năm 1970, với các công trình nổi bật của Michael Jensen, William Meckling, Armen Alchian, Harold Demsetz… nêu lên các vấn đề liên quan đến hợp đồng đại diện, ký bởi người sở hữu (sở hữu tài sản) và người đại diện quản lý (người được ủy quyền quản lý tài sản/ người làm thuê tiến hành thực hiện những quyền quản lý tài sản nhất định do người sở hữu giao phó nhằm mục tiêu tạo ra lợi ích tối đa cho chủ sở hữu tài sản) (Trần Minh Tuấn và Vũ Duy Hào, 2013). Dẫu vậy, lịch sử phát triển của lý thuyết người đại diện được cho là bắt đầu sớm hơn thế rất nhiều, từ đầu thế kỷ XIX với Berle và Means (1932) và đặc biệt là Adam Smith (1937).
Các câu hỏi nghiên cứu chính thường là: nó là cái gì, nó gồm 10 những nội dung gì, có thể khắc phục bằng cách nào, chi phí đại diện là gì, nhân tố nào có thể giảm các chi phí liên quan vấn đề người đại diện (B. Theo bài viết tổng hợp của Eisenhardt, K. (1989), lý thuyết người đại diện rất quan trọng trên khía cạnh quản trị và tổ chức, nhưng như bao vấn đề nghiên cứu khác, vẫn còn nhiều tranh cãi xoay quanh lý thuyết này. Đây là lý thuyết được nghiên cứu và vận dụng dưới nhiều góc độ khác nhau, từ kế toán, tài chính, marketing, khoa học chính trị, hành vi của tổ chức và cả xã hội học.
Eisenhardt cho rằng, nghiên cứu về lý thuyết người đại diện chính là nghiên cứu về các mối quan hệ phản ánh cấu trúc đại diện cơ bản của chủ doanh nghiệp và người được thuê, những người liên quan đến hành vi hợp tác nhưng lại khác nhau về cả mục đích lẫn thái độ đối với rủi ro. Trong một công trình nghiên cứu được công bố năm 2017, B. Leepsa tổng hợp một cách cập nhật hơn về khái niệm, định nghĩa, các nội dung cơ bản và các giải pháp khả dĩ để giải quyết xung đột giữa chủ doanh nghiệp và nhà quản lý. Các tác giả liệt kê các định nghĩa khác nhau về vấn đề người đại diện thay đổi theo thời gian cũng như phạm vi, phương pháp nghiên cứu.
Nhưng tựu chung, các học giả vẫn mô tả đó là sự xung đột về quyền và lợi ích trong các tổ chức, khi mà nhà quản lý và người chủ có những mối quan tâm đối nghịch nhau trước việc chia sẻ rủi ro và các ưu tiên khi đối diện rủi ro. Vậy, có thể hiểu rằng, lý thuyết người đại diện mô tả những xung đột về quyền và lợi ích giữa người sở hữu và người được ủy quyền quản lý trong một tổ chức nhất định làm phát sinh chi phí của doanh nghiệp, cùng với cách thức giải quyết các vấn đề đó. Cốt lõi của vấn đề nằm ở xung đột về lợi ích giữa những nhóm người khác nhau trong một tổ chức (chủ sở hữu và nhà quản lý, chủ sở hữu và chủ sở hữu, chủ sở hữu và những người cung ứng vốn khác). Lý thuyết về vấn đề người đại diện có thể được chia thành hai nhánh chính, nếu xét khởi nguồn ban đầu là kinh tế học thông tin: lý thuyết người đại diện thực chứng (positivist agency theory) và lý thuyết người sở hữu – người đại diện (principal-agent theory).
Trong số hai nhánh này, học giả thiên về hướng người sở hữu – người đại diện nhiều hơn, vì các bài viết theo hướng này thường trừu tượng nhưng lại có thể chứng minh về mặt toán học. Trong khi đó, lý thuyết người đại diện thực chứng, mà nổi bật là Jensen & Meckling (1976), Fama & Jensen (1983), Jensen (1984), Berle & Means (1932), lại tập trung vào giải thích về mặt lý thuyết các tình huống mà ở đó người chủ 11 với người được thuê có xung đột về mục tiêu và cố gắng mô tả các cách thức làm giảm mức độ tự do của người quản lý. Nhánh nghiên cứu này thiên về lý thuyết, trừu tượng và đòi hỏi tính toán phức tạp hơn (Eisenhardt, K. Và vì xuất phát từ khía cạnh thông tin, nhánh nghiên cứu này sẽ cho ra hai mệnh đề: i) nếu kết quả của hợp đồng ký giữa chủ sở hữu và người quản lý là dựa trên các khuyến khích thì người quản lý sẽ ra quyết định theo hướng có lợi cho người sở hữu và ii) nếu người chủ có thông tin để quản lý người đại diện, thì khi đó, người quản lý sẽ có xu hướng hành động cẩn trọng hơn (B.
Nhưng nếu xét trên giác độ lý thuyết quản lý (stewardship theory) các nghiên cứu xoay quanh lý thuyết người đại diện thực chứng lại bị cho là quá tập trung vào nhà quản lý mà bỏ quên phía chủ sở hữu, và rằng vấn đề đại diện cũng có thể xuất phát từ cả chủ sở hữu. Khía cạnh này không phải là không có cơ sở, khi mà việc chủ sở hữu lừa dối, trốn tránh và khai thác triệt để nhà quản lý là hoàn toàn có thể xảy ra. Hơn nữa, nhà quản lý cũng là con người, họ cũng có nhân cách và đạo đức khi vận hành công ty. Nhà quản lý, ở các cấp phân quyền khác nhau, cũng có thể cùng có chung mục đích và lợi ích với chủ sở hữu và từ đó tìm ra các phuong án hợp lý cho doanh nghiệp (Perrow, 1986).
Leepsa (2017) cũng chỉ ra rằng, nhiều học giả như Wiseman và Gomez-Mejia (1998), Sanders & Carpenter (2003) và Pepper & Gore (2015) lại thiên về lý thuyết người đại diện hành vi. Trong đó các nghiên cứu cho rằng lý thuyết người đại diện ban đầu quá chú trọng vào mâu thuẫn giữa người chủ sở hữu - nhà quản lý, chi phí đại diện và việc giải quyết mâu thuẫn về lợi ích của hai bên để giảm thiểu chi phí đại diện. Do vậy, các học giả đã đề xuất nên áp dụng các điều chỉnh tốt hơn nhằm tối ưu hóa lợi ích cho cả hai bên, và tập trung vào động lực ra quyết định của nhà quản lý, sự ưa thích rủi ro, ưu tiên về thời gian và cơ chế thưởng phạt. Cơ sở của các gợi ý này xuất phát từ vai trò không thể thiếu của nhà quản lý với người chủ sở hữu doanh nghiệp và các quyết định bởi nhà quản lý sẽ phần lớn dựa trên năng lực bản thân, động lực và các cơ hội thích hợp cho việc ra các quyết định.
Một trong những câu hỏi lớn của lý thuyết về vấn đề người đại diện đó là làm thế nào giải quyết được các mâu thuẫn nảy sinh trong quá trình hoạt động của tổ chức. Dù vẫn còn đang bỏ ngỏ, câu hỏi này đang được gợi ý theo các hướng như sau: Tăng quyền sở hữu của nhà quản lý: Jensen và Meckling (1976) cho rằng để cho người quản lý sở hữu cổ phiếu của doanh nghiệp sẽ gia tăng mối liên hệ giữa nhà quản 12 lý và doanh nghiệp vì khi đó họ sẽ cân nhắc các quyết định trên cả giác độ của người làm chủ. Đây là một cách sắp xếp lại lợi ích của người quản lý và chủ sở hữu. Trả thưởng cho nhà quản lý cấp cao: theo Core, Holthausen, và Larcker (1999), cơ chế thưởng phạt không thỏa đáng có thể dẫn đến các quyết định không tối ưu của người quản lý cho lợi ích của người chủ sở hữu.
Do vậy, cần điều chỉnh thường xuyên các chính sách thưởng phạt thỏa đáng với người quản lý cấp cao để họ ra các quyết định có lợi hơn cho doanh nghiệp. Gia tăng tỷ lệ nợ của công ty: việc tăng tỷ lệ nợ trong doanh nghiệp sẽ khiến các nhà quản lý cẩn trọng hơn, khi họ phải cân nhắc từng quyết định của mình gắn với việc phải trả định kỳ cả gốc lẫn lãi, họ sẽ có xu hướng giảm các quyết định không hiệu quả có thể cản trở tối đa hóa lợi nhuận của công ty. Tuy nhiên, hiệu quả của việc dùng nợ chuyển đổi để quản trị vấn đề đại diện sẽ giảm đáng kể nếu các nhà đầu tư có thể giao dịch chứng khoán phái sinh với các khoản chi trả phụ thuộc vào dòng tiền kinh doanh của doanh nghiệp (Frierman & Viswanath, 1994). Động lực từ thị trường lao động: B.
Leepsa (2017) gợi ý đây có thể là một cách hiệu lực đối với việc tăng hiệu quả ra quyết định của các nhà quản lý. Cơ sở của giải pháp này dựa trên kết luận trong một nghiên cứu (cũng về vấn đề người đại diện) nổi bật trước đó bởi Eugene F. Các nhà quản lý luôn khao khát cơ hội làm việc và mức thu nhập cao hơn từ thị trường việc làm, và thị trường thường ước tính khả năng của họ bằng kinh nghiệm và hiệu quả trong các công việc đã đảm nhiệm trước đây (Fama, 1980). Tăng chi trả cổ tức: dựa trên các công trình của Park (2009), Jensen (1986) và Myers (2000), B.