Mở đầu cho tất cả cũng như thừa nhận vai trò, phát triển và đặt nền móng cho các tiêu chuẩn sơ khai ban đầu, có sự trùng hợp khi những phát triển đầu tiên của khái niệm kiểm toán tài chính hiện đại là vào những năm 1930, cũng thời điểm Hiệp hội CPA bang New York (NYSSCPA – The New York State Society of CPAs) – sau này trở thành tạp chí CPA (The CPA Journal) xuất bản những ấn phẩm đầu tiên nói về những thông tin liên quan đến kế toán kiểm toán, các quy định cũng như chuẩn mực cho BCTC lúc bấy giờ. Một trong những nguồn hướng dẫn sớm nhất và được sử dụng rộng rãi, toàn diện, có ảnh hưởng và lâu dài nhất mặc dù không có thẩm quyền dành cho kiểm toán viên Hoa Kỳ là Lý thuyết và Thực hành Kiểm toán của Robert H. Montgomery, xuất bản lần đầu vào năm 1912 và sau đó được gọi đơn giản là Kiểm toán của Montgomery. Tuy nhiên, trước năm 1912, nguồn hướng dẫn kiểm toán viên chính ở Hoa Kỳ là ấn bản ở Mỹ của một tác phẩm được xuất bản lần đầu vào năm 1892 bởi giáo sư người Anh Lawrence R.
Dicksee, có tựa đề “Kiểm toán: Cẩm nang thực hành dành cho kiểm toán viên, được biên tập lại vào năm 1909 bởi Montgomery”. Sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 và cuộc Đại suy thoái sau đó, Quốc hội đã thông qua hai đạo luật liên bang sẽ thay đổi thế giới đầu tư và kiểm toán mãi mãi. Montgomery thảo luận chi tiết về các tính năng và tầm quan trọng của một hệ thống "Kiểm tra nội bộ", theo đó ông muốn nói đến một cuộc kiểm toán bao gồm kết quả hoạt động chứ không chỉ là bảng cân đối kế toán đã được đảm bảo mặc dù không có kiểm tra nội bộ thỏa đáng. Sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929 và cuộc Đại suy thoái sau đó, Quốc hội đã thông qua hai đạo luật liên bang sẽ thay đổi thế giới đầu tư và kiểm toán mãi mãi - Đạo luật Chứng khoán năm 1933 và Đạo 6 luật Giao dịch Chứng khoán năm 1934.
Đạo luật quan trọng này yêu cầu tất cả những người đăng ký SEC phải có BCTC của họ được kiểm toán bởi các CPA độc lập. Mặc dù không có bất kỳ tài liệu chuyên môn nào trước đây thể hiện được như là "Tiêu chuẩn kiểm toán được chấp nhận chung" (GAAS - Generally Accepted Auditing Standards) của ngày nay, nhưng lúc đó SAP 1 đã tham chiếu đến "Thực tiễn được chấp nhận chung" và khuyến nghị bổ sung một số thủ tục bổ sung liên quan chưa được thực hiện, cũng như ý kiến của kiểm toán viên phải được thể hiện thêm. Mô tả các hành động thực tiễn kiểm toán phổ biến như bao gồm "Tập quán được thiết lập tốt để kiểm tra hồ sơ kế toán và dữ liệu liên quan và dựa vào hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ sau khi điều tra tính đầy đủ và hiệu quả". Tuy lúc đó không có bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào về chuẩn mực kế toán, SAP 1 cũng đã sớm sử dụng các thuật ngữ "Trình bày chuẩn xác" và "Nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung" (GAAP) làm khung tham chiếu, một khái niệm không rõ ràng cho đến năm 1959 khi Hội đồng Nguyên tắc Kế toán của AICPA bắt đầu nghiên cứu và phát triển như một khuôn khổ cho giải pháp cho các vấn đề chi tiết.
Sự phát triển của cái được gọi là báo cáo kiểm toán tiêu chuẩn đã từng chậm chạp và thận trọng trong nhiều thế kỷ qua. Montgomery đưa ra hướng dẫn đáng kể và phân biệt giữa cái mà ông gọi là "Chứng nhận" – được đảm bảo bởi kiểm toán viên với ý kiến xác nhận là “chính xác” so với "Báo cáo" chi tiết nhưng chưa có cấu trúc rõ rệt. Về sau, nó đã được phát triển thành một báo cáo dạng ngắn và dài theo tiêu chuẩn tương ứng. Vào năm 1933 và 1934, các báo cáo kiểm toán được chấp nhận trong hồ sơ với Ủy ban Chứng khoán và Giao dịch Hoa kỳ (SEC) luôn là một phiên bản ngắn gọn, chưa chuẩn hóa và chỉ thể hiện được rằng một cuộc kiểm toán đã được thực hiện và kết luận bằng một ý kiến.
Do không có bất kỳ tiêu chuẩn có thẩm quyền nào, thông thường không có tài liệu tham khảo nào trong các báo cáo ban đầu này về GAAS, GAAP hoặc trình bày chuẩn xác. Nhưng một ấn phẩm nhỏ không có thẩm quyền do AICPA phát hành vào năm 1934 có tựa đề "Kiểm toán tài khoản doanh nghiệp" đã đề xuất một báo cáo kiểm 7 toán dạng ngắn tiêu chuẩn nhanh chóng được giới chuyên môn áp dụng rộng rãi. Điều này dẫn đến việc khuyến nghị sử dụng một báo cáo mở rộng có dạng ngắn và vào năm 1974, cuối cùng nó đã được chính thức chỉ định là báo cáo kiểm toán tiêu chuẩn. Mẫu báo cáo mới mô tả một số chi tiết bản chất của các thủ tục kiểm toán được kiểm toán viên sử dụng làm cơ sở cho ý kiến kiểm toán.
Mặc dù nó vẫn không đề cập đến GAAS, tuy nhiên có sử dụng thuật ngữ phù hợp với các nguyên tắc kế toán được chấp nhận lúc bấy giờ. Những thay đổi cơ bản lớn được thực hiện đối với báo cáo kiểm toán chuẩn mực đã được giới thiệu như một phần của một nhóm các tiêu chuẩn được gọi chung là chuẩn mực nhằm cố gắng thông báo tốt hơn cho người sử dụng về trách nhiệm của kiểm toán viên. Mẫu báo cáo mới mô tả một số chi tiết bản chất của các thủ tục kiểm toán được kiểm toán viên sử dụng làm cơ sở cho ý kiến kiểm toán. Vào năm 2011, Hội đồng Chuẩn mực Kiểm toán của AICPA đã ban hành cái gọi là "Tiêu chuẩn rõ ràng", một lần nữa sửa đổi và mở rộng báo cáo kiểm toán tiêu chuẩn bằng cách giới thiệu các phần có chú thích nhằm làm rõ trách nhiệm của kiểm toán viên và phân biệt chúng với trách nhiệm của ban quản lý.
Khái niệm Thuật ngữ kiểm toán thường đề cập đến việc kiểm toán tài chính hoặc soát xét BCTC. Kiểm toán là việc xem xét hoặc kiểm tra tài khoản của một công ty hoặc cá nhân bởi một cơ quan độc lập. Kiểm tra và đánh giá khách quan các BCTC của một tổ chức để đảm bảo rằng hồ sơ tài chính phản ánh công bằng và chính xác các giao dịch mà họ yêu cầu đại diện. Việc kiểm toán có thể được thực hiện nội bộ bởi các nhân viên của tổ chức hoặc bởi một công ty kế toán công được chứng nhận (CPA) bên ngoài.
Hầu hết tất cả các công ty đều được kiểm toán BCTC hàng năm. Điều này bao gồm việc xem xét các báo cáo như báo cáo thu nhập, bảng cân đối kế toán và báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Báo cáo tài chính là hồ sơ bằng văn bản truyền đạt các hoạt động tài chính của một công ty. Báo cáo tài chính thường được kiểm toán để đảm bảo tính chính xác và 8 phục vụ cho mục đích thuế, tài chính hoặc đầu tư.
Báo cáo tài chính cơ bản vì lợi nhuận bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu. Các nhà đầu tư và nhà phân tích tài chính dựa vào dữ liệu tài chính để phân tích hiệu quả hoạt động của công ty và có chủ ý cho những mục đích riêng về dữ liệu của nó. Một trong những nguồn dữ liệu tài chính đáng tin cậy và được kiểm toán quan trọng nhất là báo cáo thường niên, báo cáo tài chính của công ty gồm một phần của nó. Đo lường Năm 1986, Schoroeder cùng cộng sự đã điều chỉnh, hoàn thiện và công bố các quan điểm của bản thân về kinh nghiệm kiểm toán cùng với việc xây dựng bộ thang đo tương ứng của mô hình của nhóm trong nghiên cứu của nhóm “Audit Quality: The Perceptions of Audit-Committee Chairpersons and Audit Partners” (1986) gồm: (1) Kinh nghiệm của nhóm kiểm toán với khách hàng; (2) Kỹ năng nghề nghiệp của nhóm kiểm toán; (3) Sự đáp ứng nhu cầu cho khách hàng; (4) Năng lực nghề nghiệp; (5) Tính độc lập; (6) Thái độ thận trọng; (7) Mức độ cam kết về chất lượng; (8) Mức độ cam kết về thực hiện; (9) Tính chuyên nghiệp khi đi thực tiễn; (10) Sự gắn kết của hội đồng kiểm toán; (11) Duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp; (12) Duy trì sự đổi mới về quan điểm; (13) Mức độ trách nhiệm cá nhân.
Mô hình chất lượng kiểm toán của Carcello và cộng sự đã được đưa ra vào năm 1992 khá tương tự với Schoroeder (1986) nhưng có sự chỉnh sửa, phân loại lại và bổ sung thêm nhân tố “Chuẩn mực đạo đức của thành viên trong nhóm kiểm toán”. Một nhân tố nhận được rất nhiều sự chú ý cũng như khẳng định tầm quan trọng từ Carcello. Luận văn Tiến sĩ của Bùi Thị Thủy (2014) đã kế thừa, sử dụng và điều chỉnh, bổ sung thang đo trong nghiên cứu chất lượng kiểm toán liên quan từ các nghiên cứu trước đó. Trong luận án “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng kiểm toán BCTC các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, tác giả sau khi đã điều chỉnh thang đo đồng thời phân loại sắp xếp các nhân tố riêng theo 9 một trật tự mới cũng như hình thành các nhóm nhân tố: Nhóm nhân tố bên ngoài (3 nhân tố - 12 tiêu chí), Nhóm nhân tố thuộc về Kiểm toán viên/ Nhóm kiểm toán (8 nhân tố - 32 tiêu chí) và Nhóm nhân tố thuộc về Công ty kiểm toán (5 nhân tố - 18 tiêu chí).
Công trình nghiên cứu khoa học khối ngành kinh tế của Tiến sĩ Đỗ Hữu Hải (2015) cùng cộng sự “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp Việt Nam” đã kế thừa và tinh chỉnh mô hình của Bùi Thu Thủy (2014), thu hẹp phạm vi và tiến hành phân tích, chọn lọc sâu hơn để đưa ra được mô hình trong nghiên cứu của mình gồm các thành phần: (1) Môi trường pháp lý; (2) Nhân tố thuộc về doanh nghiệp; (3) Tính độc lập của Kiểm toán viên; (4) Trình độ chuyên môn nghề nghiệp; (5) Hệ thống kiểm soát chất lượng của công ty kiểm toán và (6) Nhân tố khác. Sau khi đã tổng hợp và lược khảo các nghiên cứu, nhìn chung các nghiên cứu đều xoay quanh các giá trị như đánh giá, phân tích các nhân tố cả trong lẫn ngoài có thể ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán BCTC.