Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thị trường, báo cáo tài chính (BCTC) là nguồn thông tin phục vụ quá trình ra quyết định của các bên liên quan như nhà đầu tư, tổ chức tín dụng, nhà quản lý doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Sau hơn 25 năm hình thành và phát triển của ngành kiểm toán độc lập tại Việt Nam, số lượng doanh nghiệp kiểm toán gia tăng nhanh chóng (tính đến năm 2017 có 171 công ty đủ điều kiện hoạt động với hơn 1.300 kiểm toán viên hành nghề theo số liệu từ VACPA).
Tuy nhiên, giữa thông tin tài chính được công bố và kỳ vọng của người sử dụng luôn tồn tại một độ lệch nhận thức, được gọi là khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (audit expectation gap). Xã hội thường kỳ vọng kiểm toán viên phải phát hiện mọi gian lận, ngăn ngừa sai phạm, chịu trách nhiệm về sổ sách và đảm bảo tính chính xác tuyệt đối của BCTC. Ngược lại, do các giới hạn tiềm tàng của quy trình kiểm toán (như phương pháp chọn mẫu, mức trọng yếu, sự thông đồng tinh vi của ban quản lý đơn vị), kiểm toán viên chỉ đưa ra sự đảm bảo hợp lý rằng BCTC không còn sai sót trọng yếu trên các khía cạnh trọng yếu theo chuẩn mực kiểm toán.
Nghiên cứu được tác giả thực hiện nhằm giải quyết 2 câu hỏi nghiên cứu:
- Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán có tồn tại hay không?
- Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán được đo lường như thế nào?
Mục tiêu nghiên cứu bao gồm:
- Xác định và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khoảng cách giữa thông tin tài chính công bố với kỳ vọng của người sử dụng thông tin (tập trung vào trách nhiệm của kiểm toán viên, độ tin cậy của báo cáo kiểm toán và tính hữu dụng của BCTC sau kiểm toán).
- Đưa ra nhận xét, kết luận về mức độ tác động của các yếu tố trên.
- Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tác động đến khoảng cách giữa thông tin tài chính công bố và kỳ vọng của người sử dụng thông tin BCTC trong hoạt động kiểm toán độc lập.
- Phạm vi không gian: Khảo sát các kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán độc lập, cán bộ tín dụng tại các ngân hàng thương mại và các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán tại địa bàn Thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện trong thời gian 5 tháng, từ tháng 12 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu
Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về vai trò của kiểm toán độc lập thông qua 3 giả thuyết nền tảng:
- Giả thuyết quản lý (Management Hypothesis): Giải thích nhu cầu giám sát bên ngoài nhằm giải quyết vấn đề bất đối xứng thông tin và xung đột lợi ích giữa chủ sở hữu và nhà quản lý (Jensen và Meckling, 1976; DeFond, 1992; Abdel-khalik, 1993).
- Giả thuyết thông tin (Information Hypothesis): Kiểm toán viên giúp nâng cao chất lượng và độ tin cậy của thông tin BCTC phục vụ việc ra quyết định của nhà đầu tư và chủ nợ (Wallace, 1980; Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA số 200).
- Giả thuyết bảo hiểm (Insurance Hypothesis): Hoạt động kiểm toán đóng vai trò như một cơ chế bảo hiểm giảm thiểu rủi ro kiện tụng và bù đắp tổn thất cho nhà đầu tư khi có sai sót trọng yếu phát sinh từ sự bất cẩn của kiểm toán viên (Wallace, 1980; Chow, 1982; Lennox, 2000; Chang và cộng sự, 2009).
Về khái niệm và cấu trúc khoảng cách kỳ vọng, tác giả kế thừa mô hình của Porter (1993) và nghiên cứu của Best và cộng sự (2001), xác định khoảng cách kỳ vọng kiểm toán gồm khoảng cách hợp lý (reasonableness gap) và khoảng cách hoạt động (performance gap - gồm khoảng cách năng lực và khoảng cách chuẩn mực).
Mô hình nghiên cứu thực nghiệm được xây dựng như sau:
$$\text{AGE} = \text{AGETN} + \text{AGETC} + \text{AGEHD}$$
Trong đó:
- $\text{AGE}$: Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tổng thể (Audit Expectation Gap).
- $\text{AGETN}$: Khoảng cách kỳ vọng về yếu tố Trách nhiệm của kiểm toán viên (đo lường qua 7 biến quan sát: TN1 đến TN7).
- $\text{AGETC}$: Khoảng cách kỳ vọng về yếu tố Độ tin cậy của báo cáo kiểm toán (đo lường qua 7 biến quan sát: TC1 đến TC7).
- $\text{AGEHD}$: Khoảng cách kỳ vọng về yếu tố Tính hữu dụng của BCTC sau kiểm toán (đo lường qua 3 biến quan sát: HD1 đến HD3).
Các giả thuyết nghiên cứu được thiết lập từ H1 đến H6, kiểm định tác động của 3 nhóm yếu tố (Trách nhiệm, Độ tin cậy, Tính hữu dụng) đến khoảng cách kỳ vọng giữa hai cặp nhóm đối tượng: Kiểm toán viên - Nhà đầu tư và Kiểm toán viên - Ngân hàng.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Tổng quan tài liệu, xác định khoảng trống nghiên cứu, xây dựng khung khái niệm và thiết kế bảng câu hỏi khảo sát dựa trên nghiên cứu của Schelluch (1996) và Best và cộng sự (2001).
- Nghiên cứu định lượng: Khảo sát bằng bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 7 điểm (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 7: Hoàn toàn đồng ý).
- Quy mô mẫu: Phát ra 150 phiếu khảo sát ngẫu nhiên (50 kiểm toán viên, 50 cán bộ ngân hàng, 50 nhà đầu tư); thu về 110 phiếu hợp lệ (tỷ lệ phản hồi đạt 73,33%), gồm 35 kiểm toán viên (31,8%), 33 nhà đầu tư (30,0%) và 42 cán bộ ngân hàng (38,2%). Đối tượng khảo sát có thâm niên công tác từ 2 đến 5 năm.
- Phương pháp phân tích dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 20 để tính toán khoảng giá trị khoảng cách $\text{Interval} = \frac{7 - 1}{7} \approx 0,85$, thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) với hệ số tải nhân tố $\ge 0,55$, và kiểm định so sánh giá trị trung bình mẫu độc lập (Independent Samples T-test).
| Thang điểm trung bình |
Ý nghĩa phân loại nhận thức |
| 1,00 – 1,85 |
Hoàn toàn không đồng ý |
| 1,86 – 2,70 |
Rất không đồng ý |
| 2,71 – 3,56 |
Không đồng ý |
| 3,57 – 4,42 |
Không ý kiến |
| 4,43 – 5,28 |
Đồng ý |
| 5,29 – 6,14 |
Rất đồng ý |
| 6,15 – 7,00 |
Hoàn toàn đồng ý |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và Cơ sở lý luận về khoảng cách giữa thông tin tài chính công bố với người sử dụng thông tin
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán (Humphrey và cộng sự, 1993; Porter, 1993; Best và cộng sự, 2001; Fadzly và Ahmed, 2004; Lee và Ali, 2008; Phan Thanh Hải, 2010; Phạm Đức Hiếu, 2011; Nhóm NCKH ĐH Ngoại thương, 2012). Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu dừng lại ở phân tích lý luận về trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc áp dụng thang đo Likert 5 điểm mà chưa kiểm định độ tin cậy thang đo Likert 7 điểm, chưa phân tích EFA và chưa so sánh chi tiết sự khác biệt kỳ vọng giữa kiểm toán viên với từng nhóm đối tượng sử dụng cụ thể (nhà đầu tư và ngân hàng).
Nội dung chương làm rõ khái niệm, chức năng xác minh và tư vấn của kiểm toán độc lập; trình bày chi tiết ba giả thuyết về vai trò kiểm toán (Quản lý, Thông tin, Bảo hiểm); phân tích trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận và sai sót theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 240. Tác giả phân tích các nguyên nhân cốt lõi gây ra khoảng cách kỳ vọng:
- Từ phía kiểm toán viên và công ty kiểm toán: Sự phụ thuộc vào dữ liệu do khách hàng cung cấp; tính chủ quan trong xét đoán và chọn mẫu kiểm toán; hạn chế về nhân lực chất lượng cao; khung pháp lý và hệ thống chuẩn mực còn thiếu tính đồng bộ.
- Từ phía người sử dụng thông tin: Nhận thức chưa đầy đủ về bản chất kiểm toán (ngộ nhận ý kiến chấp nhận toàn phần là BCTC chính xác tuyệt đối); kỳ vọng kiểm toán viên phải chịu trách nhiệm toàn bộ về việc ngăn ngừa, phát hiện mọi gian lận và đảm bảo khả năng hoạt động liên tục của doanh nghiệp.
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu khoảng cách giữa thông tin tài chính công bố với kỳ vọng của người sử dụng thông tin
Chương 2 trình bày toàn bộ quy trình thiết kế nghiên cứu thực nghiệm, phương pháp thu thập dữ liệu và kết quả xử lý thống kê trên phần mềm SPSS 20.
Kết quả thống kê mô tả cho thấy sự khác biệt rõ rệt về nhận thức giữa kiểm toán viên và người sử dụng thông tin (nhà đầu tư, cán bộ ngân hàng), đặc biệt ở nhóm yếu tố trách nhiệm:
| Tiêu chí khảo sát về yếu tố trách nhiệm |
Điểm TB Kiểm toán viên |
Điểm TB Nhà đầu tư |
Điểm TB Cán bộ ngân hàng |
Điểm TB chung |
| KTV có trách nhiệm phát hiện tất cả các gian lận (TN1) |
2,86 |
4,88 |
4,81 |
4,21 |
| KTV chịu trách nhiệm về tính hợp lý của HTKSNB (TN2) |
4,34 |
4,42 |
4,57 |
4,45 |
| KTV chịu trách nhiệm duy trì sổ sách kế toán (TN3) |
1,91 |
4,61 |
4,26 |
3,62 |
| KTV chịu trách nhiệm lập BCTC sau kiểm toán (TN4) |
3,63 |
3,55 |
3,67 |
3,62 |
| KTV có trách nhiệm ngăn ngừa gian lận (TN5) |
3,40 |
5,48 |
4,95 |
4,62 |
| KTV phải khách quan và không thiên vị (TN6) |
5,97 |
6,06 |
5,74 |
5,91 |
| KTV thực hiện đánh giá các thủ tục kiểm toán (TN7) |
5,37 |
5,39 |
5,17 |
5,30 |
Số liệu cho thấy kiểm toán viên không đồng ý với quan điểm cho rằng họ phải chịu trách nhiệm duy trì sổ sách kế toán (1,91), phát hiện tất cả gian lận (2,86) hoặc ngăn ngừa gian lận (3,40). Ngược lại, nhà đầu tư và cán bộ ngân hàng có xu hướng đồng ý hoặc phân vân về các trách nhiệm này (điểm trung bình từ 4,26 đến 5,48). Đối với trách nhiệm lập BCTC sau kiểm toán, cả ba nhóm đều có nhận thức tương đồng ở mức không đồng ý/không ý kiến (3,55 – 3,67). Cả ba nhóm đều thống nhất cao về yêu cầu kiểm toán viên phải khách quan, không thiên vị (5,74 – 6,06) và thực hiện đánh giá thủ tục kiểm toán (5,17 – 5,39).
| Tiêu chí khảo sát về yếu tố độ tin cậy |
Điểm TB Kiểm toán viên |
Điểm TB Nhà đầu tư |
Điểm TB Cán bộ ngân hàng |
Điểm TB chung |
| Đảm bảo tuyệt đối BCTC không có sai sót trọng yếu (TC1) |
4,14 |
4,21 |
4,31 |
4,23 |
| KTV không đồng ý với chính sách kế toán được sử dụng (TC2) |
3,86 |
3,39 |
3,43 |
3,55 |
| Mức độ đảm bảo của KTV được chỉ ra rõ ràng (TC3) |
5,29 |
4,12 |
4,50 |
4,64 |
| Vấn đề cần lưu ý được trình bày ở phần vấn đề khác (TC4) |
5,23 |
4,79 |
4,90 |
4,97 |
| Báo cáo tài chính cung cấp ý kiến trung thực và hợp lý (TC5) |
5,46 |
5,03 |
4,76 |
5,06 |
| Đơn vị được kiểm toán có xảy ra gian lận (TC6) |
3,74 |
4,18 |
3,93 |
3,95 |
| Mức độ thực hiện công việc được thông báo rõ ràng (TC7) |
5,26 |
4,91 |
4,81 |
4,98 |
Về độ tin cậy, kiểm toán viên đánh giá cao hơn về việc mức độ đảm bảo của cuộc kiểm toán đã được chỉ ra rõ ràng trên báo cáo (5,29) so với đánh giá của nhà đầu tư (4,12) và cán bộ ngân hàng (4,50).
Chương 2 cũng thực hiện kiểm định chất lượng thang đo Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA và kiểm định Independent Samples T-test để so sánh trị trung bình giữa các nhóm đối tượng (Kiểm toán viên – Nhà đầu tư; Kiểm toán viên – Ngân hàng), xác định các điểm khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ kỳ vọng đối với từng nhóm yếu tố.
Chương 3: Kết luận và khuyến nghị
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả tổng kết các phát hiện chính và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm thu hẹp khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Việt Nam:
- Đối với kiểm toán viên và công ty kiểm toán:
- Tăng cường công tác đào tạo chuyên môn, bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp và tính hoài nghi nghề nghiệp cho đội ngũ nhân viên trẻ.
- Tăng cường hoạt động kiểm soát chất lượng nội bộ cuộc kiểm toán, tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực kiểm toán trong việc xác định mức trọng yếu và chọn mẫu kiểm toán.
- Mở rộng phạm vi và làm rõ nội dung giải trình trong báo cáo kiểm toán, đặc biệt là các vấn đề kiểm toán chính và lưu ý người sử dụng về các hạn chế cố hữu của kiểm toán.
- Đối với người sử dụng thông tin tài chính (nhà đầu tư, ngân hàng):
- Nâng cao hiểu biết chuyên môn về kế toán, kiểm toán; nắm rõ ý nghĩa các loại ý kiến kiểm toán (chấp nhận toàn phần, ngoại trừ, từ chối, trái ngược).
- Nhận thức đúng về phạm vi trách nhiệm của kiểm toán viên: kiểm toán viên cung cấp sự đảm bảo hợp lý chứ không đảm bảo tuyệt đối, không thay thế ban giám đốc trong việc lập BCTC và ngăn ngừa gian lận.
- Đối với cơ quan quản lý chuyên môn (Bộ Tài chính, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam - VACPA):
- Hoàn thiện khung khổ pháp lý đồng bộ về kiểm toán độc lập; cập nhật và chuẩn hóa hệ thống Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (VSA) phù hợp với chuẩn mực quốc tế (ISA).
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức kiểm toán cho công chúng và các bên tham gia thị trường tài chính.
Kết quả và đóng góp của khóa luận
Kết quả chính
- Xác định thực trạng khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Việt Nam tồn tại trên cả ba khía cạnh: Trách nhiệm của kiểm toán viên, Độ tin cậy của thông tin kiểm toán công bố và Tính hữu dụng của BCTC sau kiểm toán.
- Sự sai lệch nhận thức lớn nhất tập trung vào trách nhiệm ngăn ngừa và phát hiện gian lận: trong khi kiểm toán viên khẳng định không chịu trách nhiệm phát hiện toàn bộ gian lận (điểm trung bình 2,86) và không chịu trách nhiệm ngăn ngừa gian lận (3,40), thì người sử dụng thông tin (nhà đầu tư: 4,88 và 5,48; ngân hàng: 4,81 và 4,95) vẫn đặt kỳ vọng cao vào các nghĩa vụ này.
- Có sự thống nhất cao giữa các bên về tính độc lập, khách quan của kiểm toán viên (điểm trung bình chung 5,91) và việc kiểm toán viên không chịu trách nhiệm lập BCTC thay cho doanh nghiệp (điểm trung bình chung 3,62).
- Về độ tin cậy, có sự chênh lệch có ý nghĩa thống kê giữa nhận thức của kiểm toán viên và người sử dụng về mức độ công bố rõ ràng phạm vi công việc và mức độ đảm bảo của cuộc kiểm toán.
Đóng góp của đề tài
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa các lý thuyết nền tảng (Giả thuyết quản lý, Giả thuyết thông tin, Giả thuyết bảo hiểm) và mô hình khoảng cách kỳ vọng của Porter (1993); bổ sung cơ sở lý luận về đo lường khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trong bối cảnh thị trường đang phát triển tại Việt Nam.
- Về mặt thực tiễn: Thiết lập mô hình đo lường khoảng cách kỳ vọng gồm 3 nhóm yếu tố với 17 biến quan sát trên thang đo Likert 7 điểm; cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng so sánh độc lập giữa nhóm kiểm toán viên với hai nhóm người sử dụng thông tin riêng biệt (nhà đầu tư chứng khoán và cán bộ tín dụng ngân hàng); đề xuất các nhóm khuyến nghị khả thi cho doanh nghiệp kiểm toán, người dùng BCTC và cơ quan quản lý.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
- Hạn chế về mẫu khảo sát: Quy mô mẫu dừng lại ở 110 quan sát hợp lệ và chỉ thu thập trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
- Hạn chế về đặc điểm đối tượng khảo sát: Phần lớn các đối tượng khảo sát (cả kiểm toán viên, cán bộ ngân hàng và nhà đầu tư) có thời gian công tác từ 2 đến 5 năm, phản ánh nhận thức của nhóm nhân sự trẻ, chưa đại diện đầy đủ cho các chuyên gia hoặc nhà đầu tư có thâm niên cao.
- Hạn chế về phạm vi đối tượng: Nghiên cứu chưa mở rộng khảo sát các nhóm đối tượng sử dụng BCTC khác như cơ quan thuế, cơ quan quản lý nhà nước, nhà cung cấp hoặc cổ đông nội bộ doanh nghiệp.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng quy mô mẫu khảo sát trên phạm vi toàn quốc (bao gồm TP. Hồ Chí Minh và các trung tâm kinh tế khác); phân tầng đối tượng theo số năm kinh nghiệm; nghiên cứu sâu hơn tác động của việc áp dụng mô hình báo cáo kiểm toán mới (bổ sung đoạn Vấn đề kiểm toán chính - KAMs) đến việc thu hẹp khoảng cách kỳ vọng.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo khung lý thuyết về vai trò kiểm toán, phương pháp thiết kế nghiên cứu thực nghiệm, kỹ thuật xử lý dữ liệu khảo sát bằng SPSS (thống kê mô tả thang đo Likert 7 điểm, Cronbach's Alpha, EFA, T-test).
- Các nhà nghiên cứu về kiểm toán độc lập: Kế thừa bộ thang đo 17 biến quan sát để phát triển các nghiên cứu đánh giá khoảng cách kỳ vọng kiểm toán trong các bối cảnh hoặc nhóm khách hàng đặc thù.
- Các công ty kiểm toán và cơ quan quản lý nghề nghiệp: Tham khảo các số liệu định lượng về độ lệch nhận thức của công chúng để thiết kế chương trình đào tạo kiểm toán viên và truyền thông minh bạch hóa giới hạn của cuộc kiểm toán.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng mô hình lý thuyết nào để đo lường khoảng cách kỳ vọng kiểm toán?
Khóa luận kế thừa mô hình khoảng cách kỳ vọng – thực hiện của Porter (1993), kết hợp thang đo của Schelluch (1996) và Best và cộng sự (2001). Mô hình đo lường gồm 3 nhóm yếu tố chính: Khoảng cách về yếu tố Trách nhiệm của kiểm toán viên (AGETN, 7 biến), Khoảng cách về yếu tố Độ tin cậy của báo cáo kiểm toán (AGETC, 7 biến) và Khoảng cách về yếu tố Tính hữu dụng của BCTC sau kiểm toán (AGEHD, 3 biến).
2. Sự khác biệt lớn nhất về nhận thức giữa kiểm toán viên và người sử dụng BCTC trong nghiên cứu là gì?
Khác biệt lớn nhất nằm ở nhóm yếu tố trách nhiệm liên quan đến gian lận và sổ sách kế toán:
- Trách nhiệm duy trì sổ sách kế toán: Kiểm toán viên đánh giá 1,91 (rất không đồng ý), trong khi nhà đầu tư là 4,61 và cán bộ ngân hàng là 4,26 (có xu hướng đồng ý).
- Trách nhiệm phát hiện tất cả gian lận: Kiểm toán viên đánh giá 2,86 (không đồng ý), trong khi nhà đầu tư là 4,88 và cán bộ ngân hàng là 4,81.
- Trách nhiệm ngăn ngừa gian lận: Kiểm toán viên đánh giá 3,40, trong khi nhà đầu tư là 5,48 và cán bộ ngân hàng là 4,95.
3. Cơ cấu mẫu khảo sát và tỷ lệ phản hồi của nghiên cứu được thực hiện như thế nào?
Tác giả phát ra 150 phiếu khảo sát ngẫu nhiên (50 phiếu cho mỗi nhóm: kiểm toán viên, cán bộ ngân hàng, nhà đầu tư) và thu về 110 phiếu hợp lệ, đạt tỷ lệ phản hồi 73,33%. Cơ cấu gồm 35 kiểm toán viên (31,8%), 33 nhà đầu tư (30,0%) và 42 cán bộ ngân hàng (38,2%). Toàn bộ đối tượng khảo sát có thời gian công tác từ 2 đến 5 năm tại khu vực Hà Nội.
4. Ba giả thuyết lý thuyết về vai trò của kiểm toán được tác giả trình bày là gì?
Ba giả thuyết bao gồm:
- Giả thuyết Quản lý (Management Hypothesis): Kiểm toán là cơ chế giám sát bên ngoài giúp giảm bất đối xứng thông tin và chi phí đại diện giữa nhà quản lý và chủ sở hữu.
- Giả thuyết Thông tin (Information Hypothesis): Kiểm toán làm tăng chất lượng và độ tin cậy của thông tin BCTC phục vụ việc ra quyết định kinh tế của các bên thứ ba.
- Giả thuyết Bảo hiểm (Insurance Hypothesis): Kiểm toán đóng vai trò san sẻ rủi ro và bồi thường tổn thất cho nhà đầu tư khi phát sinh sai phạm do lỗi của kiểm toán viên.
5. Khóa luận phân tích trách nhiệm của kiểm toán viên đối với gian lận dựa trên chuẩn mực nào?
Khóa luận phân tích dựa trên Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 240 ("Trách nhiệm của kiểm toán viên liên quan đến gian lận trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính") và VSA 200, khẳng định kiểm toán viên có trách nhiệm đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng BCTC không còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn, chứ không có nghĩa vụ bảo đảm tuyệt đối hay phát hiện mọi sai sót tiềm ẩn do các hạn chế vốn có của kiểm toán.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Hồng Nhung đã giải quyết vấn đề lý luận và thực tiễn về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán tại Việt Nam thông qua mô hình định lượng với 110 mẫu khảo sát tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu chứng minh sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng rõ rệt giữa kiểm toán viên với nhà đầu tư và cán bộ tín dụng ngân hàng, tập trung chủ yếu vào trách nhiệm phát hiện, ngăn ngừa gian lận và mức độ công bố thông tin kiểm toán. Các phát hiện thực nghiệm và hệ thống khuyến nghị trong khóa luận cung cấp luận cứ cho các công ty kiểm toán, người sử dụng thông tin tài chính và cơ quan quản lý trong việc nâng cao tính minh bạch và thu hẹp độ lệch kỳ vọng trong hoạt động kiểm toán độc lập.