CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHOẢNG CÁCH GIỮA THÔNG TIN TÀI CHÍNH CÔNG BỐ VỚI NGƯỜI SỬ DỤNG THÔNG TIN 1.1 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Các nghiên cứu liên quan đến khoảng cách giữa thông tin tài chính công bố với người sử dụng thông tin Chủ đề “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán” được quan tâm nhiều trong các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trên thế giới. Nếu khoảng cách này quá lớn sẽ làm giảm niềm tin của công chúng đối với hoạt động kiểm toán cũng như mức độ tin cậy của các thông tin tài chính được cung cấp. Nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề này được thực hiện tại các nước khác nhau như nghiên cứu của Best (2001) tại Singapore, nghiên cứu của Vinten (2005) tại Anh, nghiên cứu của Fadzly (2004) tại Malaysia. Các nghiên cứu đều chỉ ra sự khác biệt trong nhận thức về khoảng cách kỳ vọng trong kiểm toán.
Cơ sở cho các nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng kiểm toán nằm trong các chuyên đề của Lee (1970) và Beck (1974), những người đã nghiên cứu các công việc mà kiểm toán viên dự kiến sẽ thực hiện. Nghiên cứu “khoảng cách kỳ vọng kiểm toán giữa kiểm toán viên và người sử dụng thông tin tài chính” của Anila Devi và Shila Devi (2014) đã cung cấp chi tiết về bản chất và phạm vi khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Nghiên cứu đã đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán như: yếu tố trách nhiệm, yếu tố tin cậy, yếu tố hữu dụng giữa kiểm toán viên với các nhà đầu tư và ngân hàng. Potter (1993), đã xây dựng mô hình về khoảng cách kỳ vọng – thực hiện kiểm toán.
Theo ông, khoảng cách này được định nghĩa là kỳ vọng của xã hội về trách nhiệm của kiểm toán viên và nhận thức của kiểm toán viên về trách nhiệm của mình. Khoảng cách gồm hai phần chính là khoảng cách hợp lý và khoảng cách hoạt động. Trong đó, khoảng cách hợp lý được hiểu là sự khác biệt giữa kỳ vọng của công chúng về trách nhiệm của kiểm toán viên nên thực hiện và kỳ vọng hợp lý của công chúng đối với trách nhiệm của kiểm toán viên có thể và đang thực hiện. Khoảng cách hoạt động được định nghĩa là sự khác biệt giữa kỳ vọng của công chúng về trách nhiệm của kiểm toán viên có thể và có khả năng thực hiện và nhận thức của công chúng về kết quả thực hiện của kiểm toán viên.
Công chúng có thể dựa vào các luật và hệ thống chuẩn mực kiểm toán để kỳ vọng vào hoạt động của kiểm toán viên. Khoảng cách hoạt động được phân tích thành hai yếu tố là Khoảng cách năng lực (sự hạn chế trong 7 năng lực) và khoảng cách chuẩn mực (sự hạn chế của chuẩn mực). Khoảng cách năng lực được hiểu là khoảng cách giữa kỳ vọng thực hiện của kiểm toán viên và kết quả thực hiện được của kiểm toán viên được công chúng nhận thức và đánh giá. Khoảng cách phát sinh do bản thân kiểm toán viên không nhận thức được đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình.
Khoảng cách chuẩn mực là khoảng cách giữa nhiệm vụ hiện tại của kiểm toán viên theo quy định của pháp luật, luật lệ, quy định chuyên môn và kết quả thực hiện của kiểm toán viên được công chúng nhận thức và đánh giá. Vậy khoảng cách này phát sinh do hệ thống chuẩn mực kiểm toán chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế của xã hội và sự phát triển của nền kinh tế. Việc phân chia thành ba yếu tố tác động đến khoảng cách kỳ vọng kiểm toán của Potter (1993) đã đưa đến cho người đọc có cái nhìn rõ nét hơn, qua đó đưa ra phương pháp để giảm thiểu khoảng cách này. Khoảng cách kỳ vọng Kỳ vọng của xã hội về Nhận thức của kiểm kiểm toán trách nhiệm của kiểm toán viên về trách toán viên nhiệm của mình Khoảng cách Khoảng cách hoạt động hợp lý Trách nhiệm của Kỳ vọng hợp lý về trách kiểm toán viên 1 nhiệm kiểm toán viên 2 Sự hạn chế Sự hạn chế của Kỳ vọng không trong năng lực chuẩn mực hợp lý Hình 1.
Mô hình khoảng cách kỳ vọng – thực hiện kiểm toán của Potter (1993) Ghi chú: 1: Trách nhiệm của kiểm toán viên được chỉ ra trong Luật và các chuẩn mực kiểm toán 2: Trách nhiệm của kiểm toán viên trong phạm vi hợp lý về chi phí và lợi ích cho hoạt động kiểm toán 8 Nhóm sinh viên nghiên cứu khoa học Đại học Ngoại thương (2012), đã chỉ ra phương pháp, cách thức đánh giá khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Theo nhóm nghiên cứu, khoảng cách kỳ vọng hình thành bởi ba khoảng cách: Khoảng cách năng lực, khoảng cách chuẩn mực, khoảng cách hợp lý. Khoảng cách năng lực được tạo ra do nhận thức sai lệch của kiểm toán viên đối với quy định, luật lệ, chuẩn mực kiểm toán hiện hành. Nhận thức sai lệch này phát sinh từ năng lực, chuyên môn của kiểm toán viên.
Sự không phù hợp hay chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tế của nền kinh tế và xã hội của các luật lệ và hệ thống chuẩn mực kiểm toán hiện hành đã tạo nên khoảng cách chuẩn mực. Kỳ vọng bất hợp lý của người sử dụng BCTC với yêu cầu thực tế của nền kinh tế và xã hội đã tạo nên khoảng cách hợp lý. Vẫn dựa trên cơ sở mô hình của Potter (1993), nhóm nghiên cứu của trường Đại học Ngoại thương đã đưa ra mô hình khoảng cách kỳ vọng kiểm toán như sau: EP=DS* RG*DP Trong đó: EP: Khoảng cách kỳ vọng (Expectation Gap) DP: Khoảng cách chuẩn mực (Standard Gap) RG: Khoảng cách hợp lý (Resbonableness Gap) DP: Khoảng cách năng lực (Performance Gap) Mô hình khoảng cách kỳ vọng mà nhóm nghiên cứu đưa ra được mô tả trong hình 1.3 Luật và các Yêu cầu thực tế chuẩn mực của nền kinh tế và kiểm toán hiện xã hội Kiểm toán Người sử dụng BCTC hành Nhận thức sai lệch Không phù hợp Kỳ vọng không hợp lý Khoảng cách Khoảng cách Khoảng cách năng lực (DP) chuẩn mực (DS) hợp lý (RG) Hình 1. Khoảng cách kỳ vọng kiểm toán Nguồn: NCKH của nhóm sinh viên Đại học Ngoại thương 9 Trên thực tế, người sử dụng báo cáo tài chính luôn kỳ vọng rằng kiểm toán viên phải có trách nhiệm chủ yếu đối với báo cáo tài chính đã được kiểm toán; kiểm toán viên phải đảm bảo báo cáo tài chính ở mức chính xác; kiểm toán viên phải thực hiện kiểm tra 100% số mẫu kiểm toán; kiểm toán viên phải đưa ra tất cả những cảnh báo về rủi ro có thể xảy ra đối với doanh nghiệp.
Một cuộc kiểm toán diễn ra thường không thể đáp ứng được những yêu cầu trên do hạn chế tiềm tàng, hoặc tại đơn vị được kiểm toán có xảy ra sự thông đồng giữa ban giám đốc, trong trách nhiệm của kiểm toán viên với đơn vị, đơn vị cố tình che giấu gian lận. Vì vậy, kỳ vọng của người sử dụng báo cáo tài chính luôn lớn hơn trách nhiệm của kiểm toán viên đã tạo nên khoảng cách hợp lý. Tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu liên quan đến vấn đề này như: nghiên cứu của Phạm Đức Hiếu (2011) đề cập đến trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập với gian lận và sai sót trong kiểm toán báo cáo tài chính. Tác giả đã chỉ ra trách nhiệm của kiểm toán viên độc lập, nêu ra những nhầm lẫn chủ yếu về mục tiêu kiểm toán của kiểm toán viên, đề xuất giải pháp góp phần giảm thiểu “sự khác biệt kỳ vọng” của kiểm toán độc lập trong xu thế hội nhập phát triển.
Nghiên cứu của Phan Thanh Hải (2010) chỉ ra khái niệm, bản chất của khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, chỉ ra biểu hiện của khoảng cách kỳ vọng trong các chuẩn mực và phương pháp kiểm toán cũng như khái quát các biện pháp giảm thiểu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán. Tuy nhiên, các nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trong nước mới chỉ nghiên cứu các vấn đề liên quan đến trách nhiệm kiểm toán, hay có nghiên cứu của nhóm sinh viên Đại học Ngoại thương mới đề xuất cách xác định khoảng cách mà chưa thực hiện kiểm tra độ tin cậy của các thang đo đo lường khoảng cách kỳ vọng kiểm toán, chưa có sự so sánh về các yếu tố tạo nên khoảng cách và chỉ ra sự khác biệt về khoảng cách và kỳ vọng của kiểm toán viên với nhà đầu tư và kiểm toán viên với các ngân hàng.2 Kết quả từ các nghiên cứu trước Các kết quả nghiên cứu của các tác giả, nhóm tác giả được tóm tắt trong Bảng 1.1 Tổng hợp nghiên cứu về khoảng cách – kỳ vọng kiểm toán Nghiên cứu Nghiên cứu Nghiên cứu của Nhóm sinh viên của Potter của Humprey, Best và các cộng đại học Ngoại (1993) Moier và sự (2001) Thương Turley (1993) 10 Mục Xác định và Cung cấp bằng Đo lường Xác định, đánh giá đích phân tích bản chứng trực tiếp khoảng cách tồn mức độ thực tế chất, thành về sự khác biệt tại giữa nhận khoảng cách kỳ phần và phạm giũa quan điểm thức của kiểm vọng kiểm toán tại vi của khoảng giữa kiểm toán toán viên và vai Việt Nam cách kỳ vọng viên hành nghề trò của họ tại kiểm toán tại và người sử Singapore New Zealand dụng dịch vụ tại Anh Đối Bốn nhóm đối Kiểm toán viên Kiểm toán viên, Sinh viên ngành tượng tượng liên quan và nhóm người ngân hàng và kinh tế tại các khảo sát đến kiểm toán sử dụng dịch vụ nhà đầu tư. trường đại học, nhà viên và chức kiểm toán (kế Nhóm nhà đầu tư đầu tư chứng năng của kiểm toán, giám đốc bao gồm công khoán, nhân viên tín toán bao gồm: tài chính, nhà chúng, nhà phân dụng tại ngân hàng, Nhóm kiểm phân tích đầu tích tài chính, nhà quản lý cấp cao toán: trưởng tư, ngân hàng, nhà môi giới. và cấp trung tại nhóm kiểm nhà báo tài doanh nghiệp và toán và trợ lý chính) một số đối tượng kiểm toán khác có liên quan đến báo cáo tài Nhóm đơn vị chính.
được kiểm toán: giám đốc điều hành, giám đốc tài chính, cổ đông, kiểm toán viên nội bộ. Nhóm sử dụng dịch vụ kiểm toán liên quan đến cộng đồng 11 tài chính: nhà đầu tư chứng khoán, nhà phân tích đầu tư tài chính, ngân hàng và các tổ chức tín dụng, công ty đầu tư Nhóm sử dụng dịch vụ kiểm toán không liên quan đến cộng đồng tài chính: cố vấn pháp luật, nhà báo tài chính và công chúng nói chung.