Các Nhân Tố Tác Động Đến Cầu Du Lịch Quốc Tế Đến Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Các nhân tố tác động tới cầu du lịch quốc tế đến việt nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Kinh Tế Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

207
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN

1.1. Du lịch và phân loại du lịch

1.2. Khách du lịch

1.3. Cầu du lịch

1.4. Lý thuyết nền tảng

1.5. Lý thuyết Mô hình lực hấp dẫn

1.6. Lý thuyết tâm lý - xã hội

1.7. Tổng quan nghiên cứu

1.8. Quan điểm nghiên cứu vi mô và vĩ mô

1.9. Các nhân tố tác động tới cầu du lịch theo mô hình lực hấp dẫn

1.10. Các nhân tố tác động tới độ dài thời gian lưu trú theo lý thuyết tâm lý xã hội

1.11. Khoảng trống nghiên cứu

1.12. Khung phân tích

1.12.1. Khung phân tích các nhân tố tác động tới lượt khách đến ở cấp độ vĩ mô

1.12.2. Khung phân tích các nhân tố tác động tới thời gian lưu trú ở cấp độ vi mô

1.13. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Phương pháp phân tích theo mô hình lực hấp dẫn

2.3. Phương pháp nghiên cứu để kiểm định lượt khách đến

2.4. Kiểm định lựa chọn kỹ thuật phù hợp

2.5. Xây dựng các biến

2.6. Chỉ định mô hình thực nghiệm đánh giá các nhân tố tác động đến cầu du lịch theo mô hình lực hấp dẫn

2.7. Phương pháp phân tích theo mô hình tâm lý xã hội

2.8. Phương pháp nghiên cứu để kiểm định thời gian lưu trú

2.9. Xây dựng các biến

2.10. Chỉ định mô hình thực nghiệm đánh giá các nhân tố tác động đến thời gian lưu trú theo lý thuyết tâm lý - xã hội

2.11. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG TỚI CẦU DU LỊCH KHÁCH QUỐC TẾ ĐẾN VIỆT NAM

3.1. Phân tích thực trạng du lịch và khách du lịch quốc tế đến Việt Nam

3.2. Thực trạng khách quốc tế đến Việt Nam ở cấp độ vĩ mô

3.3. Đặc điểm khách quốc tế đến Việt Nam ở cấp độ vi mô

3.4. Phân tích các nhân tố tác động tới lượt khách quốc tế đến Việt Nam ở cấp độ vĩ mô

3.5. Thống kê mô tả số liệu các nhân tố tác động tới lượt khách quốc tế đến Việt Nam

3.6. Kết quả ước lượng mô hình các nhân tố tác động tới lượt khách quốc tế đến Việt Nam

3.7. Thảo luận kết quả các nhân tố tác động tới lượt khách quốc tế đến Việt Nam

3.8. Phân tích các nhân tố tác động tới thời gian lưu trú của khách

3.9. Kiểm định tính hợp lệ và độ tin cậy

3.10. Điều chỉnh giả thuyết nghiên cứu

3.11. Kết quả hồi quy nhân tố tác động tới thời gian lưu trú của khách quốc tế đến Việt Nam

3.12. Phân tích các nhân tố tác động tới thời gian lưu trú của khách quốc tế đến Việt Nam

3.13. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

4.1. Kết quả nghiên cứu chính của luận án

4.2. Về ảnh hưởng tới lượt khách quốc tế đến

4.3. Về ảnh hưởng tới thời gian lưu trú của khách

4.4. Định hướng phát triển của du lịch Việt Nam

4.5. Đề xuất chính sách

4.6. Thu hút khách quốc tế tới Việt Nam

4.7. Tăng thời gian lưu trú của khách tại Việt Nam

4.8. Đóng góp của luận án

4.9. Một số hạn chế và đề xuất nghiên cứu trong tương lai

4.10. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Cầu Du Lịch Quốc Tế Tại Việt Nam

Du lịch quốc tế tại Việt Nam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về các nhân tố ảnh hưởng đến cầu du lịch, cần phân tích các yếu tố kinh tế, xã hội và chính sách. Những yếu tố này không chỉ tác động đến lượng khách mà còn ảnh hưởng đến thời gian lưu trú của họ.

1.1. Định Nghĩa Cầu Du Lịch Quốc Tế

Cầu du lịch quốc tế được hiểu là nhu cầu của khách du lịch từ các quốc gia khác đến Việt Nam. Điều này bao gồm các yếu tố như thu nhập, giá cả và sự hấp dẫn của điểm đến.

1.2. Tầm Quan Trọng Của Du Lịch Quốc Tế Đối Với Kinh Tế Việt Nam

Du lịch quốc tế đóng góp lớn vào GDP của Việt Nam. Ngành này không chỉ tạo ra việc làm mà còn thúc đẩy đầu tư vào cơ sở hạ tầng và dịch vụ.

II. Các Thách Thức Đối Với Cầu Du Lịch Quốc Tế Tại Việt Nam

Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng các thách thức trong việc thu hút khách du lịch quốc tế vẫn tồn tại. Những vấn đề này bao gồm sự cạnh tranh từ các quốc gia khác và các yếu tố bên ngoài như dịch bệnh.

2.1. Tác Động Của Dịch Bệnh Đến Du Lịch

Dịch bệnh đã làm giảm lượng khách quốc tế đến Việt Nam. Các biện pháp hạn chế đi lại và lo ngại về sức khỏe đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành du lịch.

2.2. Cạnh Tranh Từ Các Điểm Đến Khác

Việt Nam phải đối mặt với sự cạnh tranh từ các quốc gia trong khu vực như Thái Lan và Malaysia, nơi có chính sách du lịch hấp dẫn hơn.

III. Phương Pháp Nâng Cao Cầu Du Lịch Quốc Tế Tại Việt Nam

Để tăng cường cầu du lịch quốc tế, Việt Nam cần áp dụng các phương pháp hiệu quả. Những giải pháp này bao gồm cải thiện cơ sở hạ tầng và tăng cường quảng bá du lịch.

3.1. Cải Thiện Cơ Sở Hạ Tầng Du Lịch

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng như sân bay, đường bộ và dịch vụ lưu trú sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch quốc tế.

3.2. Tăng Cường Quảng Bá Du Lịch

Việc sử dụng các kênh truyền thông hiện đại để quảng bá hình ảnh du lịch Việt Nam sẽ thu hút nhiều khách quốc tế hơn.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Từ Nghiên Cứu Về Cầu Du Lịch Quốc Tế

Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến cầu du lịch cung cấp những thông tin quý giá cho các nhà hoạch định chính sách. Những ứng dụng này có thể giúp cải thiện chiến lược phát triển du lịch.

4.1. Đề Xuất Chính Sách Cho Ngành Du Lịch

Các chính sách cần được điều chỉnh để phù hợp với xu hướng và nhu cầu của khách du lịch quốc tế.

4.2. Tăng Cường Hợp Tác Quốc Tế

Hợp tác với các quốc gia khác trong lĩnh vực du lịch sẽ giúp Việt Nam nâng cao vị thế trên bản đồ du lịch thế giới.

V. Kết Luận Về Tương Lai Của Cầu Du Lịch Quốc Tế Tại Việt Nam

Tương lai của cầu du lịch quốc tế tại Việt Nam phụ thuộc vào khả năng thích ứng với các thay đổi và thách thức. Việc phát triển bền vững và nâng cao chất lượng dịch vụ sẽ là chìa khóa cho sự thành công.

5.1. Dự Đoán Xu Hướng Du Lịch Trong Tương Lai

Dự đoán rằng cầu du lịch quốc tế sẽ phục hồi và phát triển mạnh mẽ sau đại dịch, nếu các biện pháp phù hợp được thực hiện.

5.2. Tầm Nhìn Đối Với Ngành Du Lịch Việt Nam

Ngành du lịch Việt Nam cần có tầm nhìn dài hạn để phát triển bền vững và cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

09/07/2025
Các nhân tố tác động tới cầu du lịch quốc tế đến việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 1. Du lịch và phân loại du lịch 1. Khái niệm du lịch Có nhiều cách định nghĩa và cách hiểu khác nhau về du lịch. Khái niệm đầu tiên vào những năm 1930, cho rằng du lịch là hành động khi con người rời khỏi nơi họ sinh sống trong khoảng thời gian ít hơn 1 năm, có chi tiêu tại nơi họ tới thăm và không vì mục đích kiếm sống (Wu, 2010).

Khái niệm này đã đề cập tới hoạt động con người rời khỏi nơi họ sinh sống trong một khoảng thời gian tối đa xác định cũng như đề cập tới mục đích chuyến đi không phải để kiếm tiền. Tuy nhiên, mục đích cụ thể của du lịch, khoảng cách địa lý chưa được đề cập cụ thể. Năm 1942, hai nhà nghiên cứu người Thụy Sỹ là Hunziker và Krapf đã bổ sung du lịch là “tổng hợp các mối quan hệ và là kết quả của hiện tượng di chuyển và ở lại của những người không cư trú hay không dẫn tới việc cư trú dài hạn và không liên quan tới bất kỳ hoạt động làm việc dài hạn hay tạm thời này” (Beerli & Martin, 2004). Định nghĩa được chấp nhận rộng rãi cũng như được thừa nhận bởi Hiệp hội quốc tế của các chuyên gia khoa học về Du lịch.

Ưu điểm của định nghĩa này là thừa nhận du lịch bao gồm nhiều khía cạnh tập trung xung quanh khách du lịch, đề cập đến cụm từ “không cư trú”, là nền tảng cho khái niệm của UNWTO sau này. Mặc dù có phương pháp tiếp cận đúng đắn, khái niệm về du lịch của Hunziker và Krapf bị phê phán là còn mơ hồ, cụm từ “tổng hợp các mối quan hệ và là kết quả của hiện tượng” không chỉ ra các ứng dụng hay mở rộng phương pháp (Leiper, 1979). Một nhược điểm nữa là để sót du lịch công vụ trong khi lại ghi nhận cả những đối tượng lưu trú tại bệnh viện là khách du lịch. Khái niệm của Leiper (1979) về du lịch đã đầy đủ hơn tuy chưa đề cập đến yếu tố con người - chủ thể quan trọng nhất của hoạt động, không gian và thời gian: “Du lịch được xác định là ngành quan trọng của quốc gia, phần lớn liên quan đến hoạt động cung cấp phương tiện đi lại, nơi lưu trú, các dịch vụ giải trí, nhà hàng và các dịch vụ liên quan cho khách trong và ngoài nước.

Du lịch có nhiều mục đích, bao gồm cả giải trí và kinh doanh”. Các định nghĩa về du lịch trong phạm vi nội địa có sự khác nhau giữa các quốc gia và khu vực, nhưng nhìn chung dựa trên ba yếu tố của định nghĩa quốc tế tiêu chuẩn: khoảng cách, thời gian và mục đích. Ngày nay, định nghĩa của UNWTO (2008) mang ý nghĩa rộng hơn và được thừa nhận, đó là: “Du lịch là các hoạt động của con người di 7 chuyển tới và ở lại bên ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian tối thiểu 24 giờ và tối đa là 1 năm liên tục, vì mục đích giải trí, công vụ hoặc mục đích khác không liên quan tới công việc, trong phạm vi họ sinh sống”. Việt Nam đưa ra khái niệm trong Luật du lịch (2017) như sau: “Du lịch là hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc có thể kết hợp với các mục đích hợp pháp khác”.

Như vậy, dù du lịch có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng vẫn phải dựa trên những điểm chung. Thứ nhất, đó phải là sự di chuyển khỏi nơi sinh sống thường xuyên và ở lại điểm đó. Theo gợi ý của UNWTO, môi trường sinh sống thường xuyên tính theo khoảng cách không xa hơn 160 km. Thứ hai, khách du lịch phải lưu trú tại điểm đến.

Thời gian lưu trú tối đa là 1 năm liên tục, với những người cư trú trên 1 năm sẽ được xem là cư trú. Khoảng thời gian tối thiểu cư trú của khách du lịch là 24 giờ tại điểm đến, tức là họ phải trải qua ít nhất 1 đêm tại điểm đến thì mới được xếp loại là khách du lịch. Với trường hợp độ dài thời gian ở lại ít hơn 24 giờ, người đó sẽ được xếp lại là khách tham quan trong ngày, ví dụ, khách đi du thuyền ghé thăm. Thứ ba, mục đích chuyến đi bao gồm: nghỉ dưỡng và những kỳ nghỉ, giải trí, thăm họ hàng và bạn bè, công vụ, chữa bệnh, tâm linh hoặc hành hương, thể thao v.

Với 3 mục đích (nghỉ dưỡng, giải trí, thăm họ hàng, bạn bè, công vụ) là mục đích chính của du lịch, lượng khách du lịch sẽ được báo cáo trong các thống kê du lịch của UNWTO và hầu hết các nguồn thống kê quốc gia. Những mục đích còn lại sẽ được gom lại với nhau thành nhóm hỗn hợp trong nguồn này. Nội dung luận án sử dụng khái niệm du lịch của UNWTO được đưa ra vào năm 2008. Điều này giúp thống nhất với khái niệm được sử dụng trong các nghiên cứu được NCS tổng quan dưới đây.

Phân loại du lịch Tùy theo những tiêu chí khác nhau sẽ có những cách phân loại loại hình du lịch khác nhau. Xét theo khoảng cách về biên giới của nước cư trú, sẽ có sự phân biệt du lịch nội địa và du lịch quốc tế. Khách du lịch nội địa bao gồm những người cư trú tại một nước và du lịch trong phạm vi nước đó. Du lịch quốc tế chỉ các hoạt động du lịch xảy ra tại một nước khác với quốc gia một người sinh sống.

Trong đó, du lịch nhận khách thể hiện những người không cư trú đi du lịch tại một nước được nhắc đến và du lịch gửi 8 khách là những người cư trú tại nước nhắc đến đi du lịch tới nước khác (Li, 2004). Cụ thể, UNWTO (2008) phân loại các loại hình du lịch như sau: - Du lịch nội địa: chỉ hoạt người cư trú trong nước đi du lịch trong phạm vi nước đó. - Du lịch nhận khách chỉ hoạt động của người không cư trú du lịch tới nước tham chiếu. - Du lịch gửi khách chỉ hoạt động của người cư trú du lịch ra bên ngoài nước tham chiếu.

Xét về phương diện kinh tế, du lịch nhận khách mang lại doanh thu cho nền kinh tế địa phương của nước điểm đến, do đó nó tương đương với xuất khẩu, trong khi đó du lịch gửi khách là sự rò rỉ tài chính của nền kinh tế nên được xem như hoạt động nhập khẩu. Khách du lịch 1. Khái niệm Khái niệm khách du lịch được đưa ra từ những năm 1930. Du lịch có 2 thành phần: yếu tố động (hành trình) và yếu tố tĩnh (ở lại) được kết hợp trong định nghĩa khách du lịch, chỉ những người rời xa nơi cư trú thường xuyên ít nhất 1 đêm (24 giờ) (Leiper, 1979).

Khái niệm khách du lịch được UNWTO hoàn thiện năm 2008 “những khách tham quan tạm thời lưu trú ở một địa điểm bên ngoài nơi sinh sống thường xuyên của họ, trong một khoảng thời gian liên tục ít nhất 24 giờ, nhiều nhất là 1 năm, vì mục đích giải trí, công vụ hoặc mục đích khác”. Khái niệm này giúp phân biệt khách du lịch với khách tham quan trong ngày. Một số nước có giới hạn về thời gian lưu trú tối đa cho du khách, ví dụ ba tháng, thường là do visa du lịch hoặc giấy phép khác cấp cho khách. Luật Du lịch Việt Nam (2017) đưa ra định nghĩa “khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc để nhận thu nhập ở nơi đến”.

Khái niệm về khách du lịch của UNWTO được sử dụng trong luận án nhằm thống nhất với các nghiên cứu được tổng quan cũng như số liệu thứ cấp về khách du lịch. Phân loại khách du lịch Khách du lịch có thể được phân loại thành khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. Khách quốc tế là những người lưu trú ít nhất 24 giờ tại quốc gia họ đến thăm (không phải quốc gia họ định cư). Mục đích của du khách quốc tế được UNWTO chia ra như sau: (1) Nghỉ dưỡng, giải trí, kỳ nghỉ; (2) Thăm thân, sức khỏe, tôn giáo; (3) Công tác và chuyên gia; (4) Muc đích khác.

9 Khách du lịch nội địa, theo định nghĩa của UNWTO là bất kỳ công dân cư trú của một nước, quốc gia hoặc không, du lịch từ địa điểm anh ấy/ cô ấy cư trú tới một địa điểm khác trong cùng một nước, lưu trú lại ít nhất một đêm cho các hoạt động hay những người được thưởng. Như vậy, khách du lịch quốc tế không gồm các đối tượng sau: (1)Khách tham quan trong ngày (không lưu trú qua đêm); (2) Dân nhập cư; (3) Dân cư sống ở vùng biên giới; (4) Những người định cư ở một nước (khu vực) nhưng lại làm việc ở một đất nước (khu vực) khác; (5) Những thành viên tham gia quân đội, lãnh sự quán hoặc các đại dện trong ngành ngoại giao khi họ di chuyển từ đất nước của họ tới nước khác để làm nhiệm vụ; (6) Những người quá cảnh mà không nhập cảnh chính thức vào đất nước thông qua hải quan. Cầu du lịch 1. Khái niệm Cầu du lịch bắt nguồn từ định nghĩa cổ điển về cầu trong kinh tế học, về khao khát sở hữu hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ kết hợp với khả năng chi trả.

Điều đặc biệt của sản phẩm du lịch là gói các hàng hóa và dịch vụ bổ sung (Morley, 1992) và quá trình tiêu dùng du lịch xảy ra đồng thời với sản xuất du lịch (Schulmeister, 1979). Song & Witt (2000) đã mở rộng khái niệm cầu du lịch của một điểm đến cụ thể là số lượng sản phẩm du lịch (cả hàng hóa và dịch vụ) mà người tiêu dùng sẵn sàng mua trong một khoảng thời gian cụ thể theo một tập hợp các điều kiện nhất định. Một số tác giả cho rằng số lượng khách du lịch thể hiện số lượng sản phẩm du lịch được tiêu dùng. Họ chia cầu du lịch gồm: cầu thực tế, cầu bị ức chế và không có cầu du lịch (Cooper & cộng sự, 2008; Page & Connell, 2006).

Cầu thực tế đề cập đến tổng số khách du lịch được ghi nhận tại một địa điểm hoặc một thời điểm cụ thể. Cầu thực tế phụ thuộc vào các tính năng và đặc điểm cụ thể của các lựa chọn điểm đến, thời gian lưu lại và thời gian di chuyển, các hoạt động được thực hiện tại điểm đến và số tiền chi cho kỳ nghỉ mà khách đánh giá để đưa ra quyết định mua hàng cuối cùng (Page &Connell, 2006).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ