Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) là dấu mốc chuyển biến trong đời sống xã hội và văn học nghệ thuật Việt Nam. Không khí dân chủ và tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật" đã tác động trực tiếp đến quan niệm nghệ thuật của các thế hệ nhà văn, thúc đẩy khuynh hướng nhận thức lại hiện thực đời sống và số phận con người. Trong tiến trình đổi mới văn học, tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990) của Nguyễn Khắc Trường khẳng định vị trí với giải thưởng chính thức của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991, kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực đời thường, phong tục tập quán truyền thống, yếu tố trào lộng, bi kịch và tính chất kỳ ảo.
Tác giả khóa luận nhận định rằng phần lớn các công trình nghiên cứu tiểu thuyết thời kỳ đổi mới thời điểm đó thường tập trung vào các mảng đề tài như chiến tranh hậu chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, hoặc sự thay đổi quan niệm về giá trị con người nói chung, trong khi diện mạo và các vấn đề bức bối của nông thôn chưa được quan tâm tương xứng. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu nhằm phân tích toàn diện bức tranh làng quê miền Bắc thời kỳ đổi mới qua ngòi bút của Nguyễn Khắc Trường.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được xác định theo 3 nội dung cụ thể:
- Phác họa những tồn tại, biến đổi và các vấn đề nảy sinh trong bức tranh văn hóa làng quê Việt Nam thời kỳ đổi mới thể hiện qua tác phẩm.
- Khám phá sự chuyển biến trong lối sống, tâm lý, tình cảm và số phận của người nông dân trước những tác động của hoàn cảnh lịch sử - xã hội.
- Làm sáng tỏ giá trị phản ánh hiện thực cùng những nét đặc sắc trong tư duy nghệ thuật, nghệ thuật trần thuật và xây dựng hình tượng của nhà văn.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu tập trung vào các vấn đề nông thôn miền Bắc, mối quan hệ làng xã, xung đột dòng họ và thân phận con người được phản ánh trong văn bản tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng cơ sở lý luận dựa trên việc tổng kết bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam qua hai giai đoạn (1975–1985 và từ 1986 trở đi), đường lối đổi mới tư duy văn hóa nghệ thuật của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI và Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị. Hệ thống lý luận về sự vận động của thể loại tiểu thuyết sau năm 1986 được vận dụng để làm rõ bước chuyển từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết thế sự - đời tư, sự mở rộng biên độ phản ánh hiện thực đa chiều (nhận thức lại quá khứ, khai thác hiện thực tâm lý, tâm linh) và cấu trúc 4 kiểu nhân vật điển hình theo lý luận của Bùi Việt Thắng (nhân vật bi kịch, nhân vật anh hùng, nhân vật kỳ dị, nhân vật lập thân). Ngoài ra, nghiên cứu tiếp thu hệ thống ý kiến đánh giá của các nhà phê bình, nhà nghiên cứu văn học như Hà Minh Đức, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hữu Sơn, Phan Cự Đệ, Hồng Diệu, Thanh Phước và Đỗ Mai Hà.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai đồng bộ:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Vận dụng đặc trưng thể loại tiểu thuyết để phân tích chi tiết các tình huống, tính cách nhân vật, từ đó tổng hợp thành các bình diện bức tranh nông thôn, phong tục tập quán và bi kịch làng xã.
- Phương pháp lịch sử: Đặt tác phẩm vào tọa độ lịch sử - xã hội cụ thể của thời kỳ hậu chiến và thời kỳ đầu đổi mới để lý giải sự vận động của nhận thức xã hội và quan điểm nghệ thuật của tác giả.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu các yếu tố nội dung và nghệ thuật của Mảnh đất lắm người nhiều ma với các tiểu thuyết cùng thời kỳ như Thời xa vắng (Lê Lựu), Bến không chồng, Dưới chín tầng trời (Dương Hướng), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai), Đám cưới không có giấy giá thú (Ma Văn Kháng).
Nguồn dữ liệu nghiên cứu là văn bản tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trường, 1990) cùng các tài liệu phê bình chuyên khảo, bài báo khoa học đăng tải trên tạp chí Văn học và Dư luận, tạp chí Văn nghệ Quân đội, và báo Văn nghệ.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
Chương 1 khái quát bối cảnh lịch sử - xã hội Việt Nam từ sau năm 1975 và phân tích các yêu cầu đổi mới văn học:
- Bối cảnh lịch sử - xã hội: Giai đoạn 1975–1985 là chặng đường hàn gắn vết thương chiến tranh nhưng rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng do cơ chế tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiều khuyết tật. Giai đoạn từ năm 1986 mở ra bước ngoặt với đường lối đổi mới toàn diện của Đại hội Đảng VI, xác định tư tưởng "lấy dân làm gốc" và giải phóng năng lực sản xuất.
- Yêu cầu đổi mới văn học: Đời sống văn học chuyển dịch mạnh mẽ từ khuynh hướng sử thi sang cảm hứng thế sự - đời tư. Những tìm tòi bước đầu của Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Mạnh Tuấn, Ma Văn Kháng, Lưu Quang Vũ đã tạo tiền đề cho sự xuất hiện của dòng văn học nhận thức lại hiện thực với cảm hứng phê phán trên tinh thần nhân bản (tiêu biểu như Thời xa vắng của Lê Lựu, truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, tiểu thuyết của Bảo Ninh, Dương Hướng, Nguyễn Khắc Trường).
- Sự vận động của tiểu thuyết thời kỳ đổi mới: Khóa luận chỉ ra những biến chuyển toàn diện:
- Đổi mới tư duy và khám phá hiện thực đa chiều: Xuất hiện ba khuynh hướng gồm nhận thức lại hiện thực cũ, mở rộng biên độ sang các mảng nhạy cảm, và khai thác hiện thực vô thức, tâm linh.
- Thay đổi đề tài và nhân vật: Hình thành các nhóm đề tài "vết thương" (mổ xẻ sai lầm cải cách ruộng đất, bao cấp), đề tài lịch sử kiểu mới và đề tài đời sống đương đại; xu hướng giản lược số lượng nhân vật nhưng gia tăng tính chất phức hợp, đa diện.
- Cách tân cốt truyện và điểm nhìn trần thuật: Phá vỡ kết cấu tuyến tính đóng kín, gia tăng cốt truyện tâm lý, đan xen đa điểm nhìn và đa âm giọng điệu; đẩy mạnh kỹ thuật phân tích nội tâm thông qua độc thoại nội tâm và dòng ý thức.
- Tác giả và tác phẩm: Tóm lược tiểu sử tác giả Nguyễn Khắc Trường (bút danh Thao Trường, sinh năm 1946 tại Đồng Hỷ, Thái Nguyên, từng công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Văn nghệ) cùng quá trình sáng tác (Cửa khẩu, Thác rừng, Miền đất Mặt trời, Gặp lại anh hùng Núp). Tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma (1990) đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1991, Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2000 và được đạo diễn Nguyễn Hữu Phần chuyển thể thành phim truyền hình Đất và người (2002).
CHƯƠNG 2: BỨC TRANH NÔNG THÔN TRONG TIỂU THUYẾT MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA
Chương 2 là trọng tâm của khóa luận, đi sâu mổ xẻ các bình diện hiện thực làng quê Giếng Chùa:
- Bức tranh phong tục tập quán và đời sống thường nhật:
- Phân tích định chế lệ làng qua tục nộp 200 viên gạch vồ Hương Canh để lát con đường trục chính dài gần 1 km (áp dụng bắt buộc cho các trường hợp cưới xin, đỗ tú tài, nhậm chức lý trưởng, phụ nữ chửa hoang, hoặc người đi xa trở về làng).
- Khắc họa tâm lý cư dân nông thôn: bên cạnh nếp sống "tối lửa tắt đèn có nhau" là thói tọc mạch, soi mói đời tư ("trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã thông" qua chuyện nhà bà Đồ Ngật ăn bánh mạt ngô, ông Quản Ngư ăn cháo cám trong ngày đói giáp hạt); thói tự ti kết hợp sĩ diện phô trương của cải (nhịn ăn để sắm sa-lông, tủ lệch, hoặc tổ chức tang ma xa hoa ngả lợn tạ, kèn trống bát âm của họ Vũ Đình nhằm ganh đua với họ Trịnh Bá).
- Bi kịch gia đình, dòng tộc và tranh chấp quyền lực:
- Nguồn gốc mối thù truyền kiếp ("hôn nhân, điền thổ vạn cố chi thù") giữa hai họ Trịnh Bá và Vũ Đình, khởi nguồn từ cuộc chạy đua chức lý trưởng thời phong kiến giữa Trịnh Bá Hoành và Vũ Đình Đại gắn liền với truyền thuyết dòng họ thờ Hổ thần và mối nghi kỵ chọc thủng mắt tranh thờ.
- Sự tiếp nối khốc liệt ở thế hệ sau giữa Trịnh Bá Thủ (Bí thư Đảng ủy xã) và Vũ Đình Phúc (cựu Chủ nhiệm hợp tác xã). Hai bên tận dụng mọi công cụ từ đơn từ khiếu nại nặc danh (vụ chôn cất sơ sài lão Quềnh, cấp thóc chính sách, nhập nhằng thuế đất khi sáp nhập xã) đến việc lợi dụng Nghị quyết 04 về làm trong sạch Đảng để triệt hạ nhau.
- Mối thù tình ái giữa Trịnh Bá Hàm và Vũ Đình Phúc khiến Hàm nghe theo di huấn đào trộm mộ cụ tổ họ Vũ Đình để triệt hạ đối phương; sau đó ép bà Son (người yêu cũ của Phúc, vợ Hàm) vu khống Phúc tội cưỡng dâm, trực tiếp đẩy bà Son đến cái chết oan uổng. Mối thù dòng họ đồng thời bóp chết tình yêu trong sáng giữa thế hệ trẻ là Đào (con gái Hàm) và Tùng (cháu họ Phúc).
- Bi kịch cải cách ruộng đất: Tác phẩm tái hiện vết thương lịch sử khi nông dân nghèo bị kích động lòng căm thù giai cấp. Nhân vật Vũ Đình Đại bị đội trưởng cải cách Hùng Cường quy kết địa chủ máy móc chỉ vì sở hữu 5 mẫu ruộng và 3 con trâu cày; con trai trưởng là Vũ Đình Phúc cùng vợ phải đứng ra xưng "mày - tao" đấu tố chính cha mình để chứng minh tính giai cấp.
- Số phận con người nơi làng quê: Phân tích bi kịch của tầng lớp dưới đáy xã hội qua hình ảnh lão Quềnh (người đàn ông cô độc, chết đi trở thành công cụ cho các phe phái đấu đá) và thân phận người phụ nữ (bà Son, bà Dần, Luyến) bị giam cầm trong tư tưởng phong kiến nam quyền ("tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử"), chịu hy sinh và trở thành nạn nhân trong các mưu đồ tranh giành quyền bính.
| Bình diện hiện thực |
Biểu hiện cụ thể trong làng Giếng Chùa |
Tác động / Hậu quả xã hội |
| Luật tục và lối sống |
Lệ nộp 200 viên gạch vồ Hương Canh; thói xét nét tò mò đời tư; tâm lý chuộng sĩ diện phô trương đồ đạc. |
Duy trì cơ chế làng xã khép kín; tạo áp lực tâm lý và gánh nặng kinh tế lên đời sống người nông dân. |
| Xung đột dòng họ |
Tranh chấp ngôi thứ, chức vị từ thời phong kiến (Hoành - Đại) kéo dài đến thời hợp tác xã (Thủ - Phúc). |
Phá vỡ khối đoàn kết thôn xóm; hình thành tệ bè phái, đơn thư tố cáo nặc danh, bẫy quyền lực. |
| Định kiến đạo đức |
Tư tưởng phụ quyền gia trưởng; ép buộc hôn nhân; đào mồ mả trả thù; bức hại phụ nữ. |
Gây ra cái chết oan khuất của bà Son; ngăn cản tình yêu tự do của thế hệ trẻ (Đào - Tùng). |
| Di chứng lịch sử |
Đấu tố cực đoan trong cải cách ruộng đất; cơ chế bao cấp trì trệ tại nông thôn. |
Rạn nứt luân thường đạo lý gia đình (con đấu tố cha); tha hóa nhân cách cán bộ cơ sở. |
CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN BỨC TRANH NÔNG THÔN TRONG MẢNH ĐẤT LẮM NGƯỜI NHIỀU MA
Chương 3 tổng kết các thủ pháp nghệ thuật chủ đạo:
- Tình huống bi kịch: Tác giả xây dựng mạng lưới tình huống xung đột gay gắt: tình huống tranh giành quyền lực chính trị thôn xã, tình huống đào mộ người chết mang tính rùng rợn, tình huống ép cung vu cáo đạo đức dẫn đến cái chết oan, và tình huống xung đột giữa tình yêu đôi lứa với nghĩa vụ bảo vệ dòng tộc.
- Không gian và thời gian nghệ thuật: Không gian làng quê Giếng Chùa tù đọng, quẩn quanh sau lũy tre, đối lập giữa không gian trang nghiêm của đình làng, trụ sở ủy ban với không gian u ám ngoài bãi tha ma. Thời gian nghệ thuật chủ yếu là thời gian bóng đêm và cảnh chiều tà (phù hợp với luận điểm của Nguyễn Hữu Sơn), tạo nên bầu không khí bức bối, thuận lợi cho các mưu mô toan tính ngầm.
- Yếu tố kì ảo: Đan cài huyền tích Hổ thần trả ơn - cắn nhầm ân nhân, các bóng ma chập chờn cùng tín ngưỡng dân gian nhằm tô đậm thế giới tâm linh bất an, làm tăng chiều sâu biểu tượng cho những bi kịch trần thế.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận làm rõ bức tranh toàn cảnh về nông thôn miền Bắc thời kỳ đổi mới qua tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma, tổng hợp thành các kết quả cụ thể:
- Phân tích bản chất của sự tha hóa quyền lực ở cấp cơ sở và cơ chế vận hành phức tạp của các mối quan hệ dòng họ chi phối đời sống chính trị - xã hội làng quê.
- Chỉ ra tính hai mặt của văn hóa làng xã: sự gắn kết cộng đồng đan xen với các hủ tục, thói tọc mạch, sĩ diện và định kiến gia trưởng kìm hãm tự do cá nhân.
- Về mặt học thuật, công trình đóng góp hệ thống cứ liệu phân tích văn bản cụ thể, đối chiếu so sánh đa chiều giữa tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường với các tiểu thuyết cùng thời (Thời xa vắng, Bến không chồng), chứng minh sự đổi mới thi pháp tiểu thuyết giai đoạn sau năm 1986 trên các phương diện xây dựng tính cách nhân vật đa diện, nghệ thuật tổ chức điểm nhìn và xử lý thời gian - không gian nghệ thuật.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận giới hạn phạm vi khảo sát trong một tác phẩm đơn lẻ (Mảnh đất lắm người nhiều ma) đại diện cho không gian nông thôn đồng bằng Bắc Bộ; dung lượng chương 3 về thi pháp nghệ thuật được triển khai cô đọng hơn so với dung lượng phân tích hiện thực xã hội ở chương 2.
Hướng nghiên cứu mở rộng bao gồm việc đặt tác phẩm vào hệ thống so sánh đối chiếu toàn diện với các tiểu thuyết viết về nông thôn miền Trung và Nam Bộ sau năm 1986, hoặc mở rộng nghiên cứu thi pháp chuyển thể tác phẩm từ văn bản văn học sang ngôn ngữ điện ảnh truyền hình.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo trực tiếp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam, Văn hóa học khi nghiên cứu về tiến trình văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới và mảng đề tài nông thôn - nông dân. Các phần phân tích chi tiết về luật tục làng xã, bi kịch dòng họ và tâm lý tiểu nông tại Chương 2 cùng hệ thống tổng thuật lý luận tiểu thuyết tại Chương 1 có giá trị tham khảo tốt cho các khóa luận, tiểu luận cùng hướng đề tài.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận nêu chi tiết lệ làng Giếng Chùa quy định việc nộp gạch lát đường như thế nào?
Theo văn bản, làng Giếng Chùa có lệ bất kỳ đám cưới nào cũng phải nộp 200 viên gạch vồ Hương Canh để lát đường trục chính (trai gái cùng làng thì mỗi bên nộp 100 viên; lấy người làng khác thì phải nộp đủ 200 viên). Ngoài ra, người đỗ tú tài trở lên, người nhậm chức từ lý trưởng trở lên, phụ nữ chửa hoang tạ làng, và người đi xa quê trở về đều phải nộp hoặc mừng làng 200 viên gạch.
2. Mối thù truyền kiếp giữa hai họ Trịnh Bá và Vũ Đình khởi nguồn từ đâu?
Mối thù bắt nguồn từ sự cạnh tranh chức lý trưởng thời phong kiến giữa Trịnh Bá Hoành và Vũ Đình Đại (Hoành bán ruộng đất, trâu lợn để chạy chức nhưng thất bại, dẫn đến uất hận), gắn với mối nghi ngờ nhà Vũ Đình chọc thủng mắt bức tranh thờ Hổ thần của nhà Trịnh Bá và mối thù tình ái cá nhân giữa Trịnh Bá Hàm với Vũ Đình Phúc liên quan đến bà Son.
3. Vì sao nhân vật Vũ Đình Đại bị kết tội địa chủ trong đợt cải cách ruộng đất?
Vũ Đình Đại bị đội trưởng cải cách Hùng Cường quy kết địa chủ vì sở hữu 5 mẫu ruộng, 3 con trâu cày và thuê gần chục nhân công làm việc vào ngày mùa. Dù ông Đại sinh hoạt kham khổ (ăn ngày hai bữa cơm đèn, lao động nặng nhọc), đội cải cách vẫn lập luận đó là "âm mưu" nhằm bóc lột sức lao động của người vô sản.
4. Luận điểm về thời gian nghệ thuật bóng đêm trong tác phẩm được khóa luận tiếp thu từ nhà nghiên cứu nào?
Khóa luận tiếp thu luận điểm của nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết Bóng đêm - Một phương diện tư duy nghệ thuật trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma (in trong cuốn Điểm tựa phê bình văn học), chỉ ra rằng thời gian bóng đêm và chiều tà là đặc trưng gắn liền với sự nảy sinh các biến cố và hành động mờ ám của nhân vật.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Ngô Văn Ửng Em đã tái hiện có hệ thống bức tranh nông thôn miền Bắc thời kỳ đổi mới qua tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường. Bằng việc kết hợp các phương pháp phân tích, lịch sử và so sánh văn học, công trình làm sáng tỏ những xung đột quyền lực, bi kịch dòng họ và thân phận con người dưới tác động của phong tục tập quán cùng tàn dư lịch sử. Nghiên cứu khẳng định giá trị hiện thực và những đóng góp về thi pháp nghệ thuật của tác phẩm trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam đương đại.