CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Bối cảnh lịch sử - xã hội và yêu cầu đổi mới văn học từ sau năm 1975 đến nay 1. Bối cảnh lịch sử - xã hội Như chúng ta đã biết, sau chiến thắng chống đế quốc Mỹ với biết bao đau thương, quật cường đã khép lại trang sử hào hùng của dân tộc, một hiện thực xã hội đầy vẻ vang, oanh liệt mà sử sách không thể nào nói khác đi được. Giờ đây, khi chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ nhưng hậu quả của nó vẫn còn đó với những khó khăn chất chồng, những con người - chủ nhân của thời đại lịch sử mới lại bộn bề với những lo toan, phải đối mặt với một hiện thực xã hội mới đầy biến động, xáo trộn, phức tạp.
Dường như những cái được xem là chân lý của thời kỳ trước lại là cái có vấn đề của thời kỳ sau. Ngay cả chiến tranh cũng vậy, hàng loạt các vấn đề của cuộc sống thời hậu chiến lại được đặt ra, đòi hỏi một cách nhìn mới và những nhận thức mới, những cách thể hiện mới. Sau khi thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, nước ta bước vào thời kì quá độ để tiến lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước giờ đây có nhiều thuận lợi cơ bản hơn so với thời kì ở miền Bắc từ sau năm 1954.
Nước nhà hoàn toàn độc lập thống nhất, bừng dậy hào khí của một dân tộc vừa mới chiến thắng, đang thiết tha với độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Hơn bao giờ hết, con người Việt Nam có đầy đủ điều kiện để thực hiện khát vọng cháy bỏng của mình. Mặc dù, cuộc sống sau chiến tranh vận hành một cách khó nhọc, đầy rẫy những lo toan, phức tạp. Những tổn thất, đau thương trong chiến tranh dần dần tỏa sức nặng.
Đó là thời kỳ nền kinh tế - xã hội nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp tỏ ra bất lực và ngày càng bộc lộ thêm những khuyết tật. Do đó, cùng với sự đổi thay mọi mặt trong đời sống xã hội từ sau 1975 đã kéo theo sự thay đổi không chỉ ở bề mặt mà cả bề sâu trong tâm lý và nhận thức ở mỗi con người. Nếu như trước kia tất cả mọi người đồng lòng, đồng sức cho chiến thắng dân tộc, thì ngày nay trong thời kỳ hậu chiến con người phải đối mặt với bao nỗi lo toan cá nhân, cho cuộc sống đời thường.
Trong cuộc chiến không 5 tiếng súng tưởng như yên ả ấy lại chất chứa những biến động dữ dội, tác động sâu sắc đến tâm thức cá nhân mỗi người. Nhà văn Nguyễn Khải đã nhận xét: “Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh, giản dị của nó. Hòa bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong. Nhiều người không thể chết trong nhà tù, trên trận địa, trong chiến tranh mà lại chết trong ao tù trưởng giả khi cả nước đã dành được tự do và độc lập”.
Sau mấy mươi năm chiến tranh, đất nước bị tàn phá nặng nề, nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động thấp, đời sống nhân dân thời hậu chiến vô cùng khó khăn. Cơ chế quản lí tập trung, bao cấp với bộ máy hành chính phức tạp đã trở thành lực cản đáng kể. Mặc khác, các thế lực thù địch, phản động trong nước và trên thế giới vẫn còn đang ngấm ngầm chống phá, gây rối. Đặc biệt, tình hình quốc tế vào những năm cuối thập niên 80 đã diễn biến theo chiều hướng xấu đi, hết sức bất lợi cho phong trào Cách mạng trên thế giới và trong nước.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội - đó là sự nghiệp vô cùng vinh quang nhưng không ít những khó khăn thử thách. Hiện thực xã hội đó đòi hỏi mỗi người phải có một cách nhìn, một cách nghĩ mới, với trách nhiệm và niềm tin. Nguyễn Đình Thi đã nói về vấn đề này như sau: “Trong chiến tranh, chúng ta như đi giữa cơn bão lửa thổi trên mặt đất. Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa hiện nay, không thấy có bão lửa, vậy mà hình như mỗi người thấy đất động dưới chân mình” [12; tr.
Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, để giải quyết những khó khăn thử thách trước mắt, nhằm xây dựng và phát triển đất nước thì đổi mới là một lựa chọn khẩn thiết, dứt khoát, có ý nghĩa sống còn. Đổi mới là con đường tất yếu, duy nhất đảm bảo cho sự phát triển đất nước và cũng là nỗi khát khao cháy bỏng, là nguyện vọng của toàn dân tộc nhằm thoát khỏi những khó khăn, thách thức của một đất nước sau hơn 30 năm chiến tranh. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986) đã diễn ra với hai khẩu hiệu: “Lấy dân làm gốc” và “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật’’. Hai khẩu hiệu đã thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống văn học nghệ thuật, mở ra một thời kỳ đổi mới cho văn học Việt Nam, vì thế mà văn học sau 1986 thực sự đã có một khởi sắc mới trên các phương diện.
Song có thể thấy, một trong những điều cốt lõi của công cuộc đổi mới này chính là đổi mới tư duy, đổi mới cách làm, cách nghĩ sao cho đúng quy luật khách 6 quan vốn có của nó. Nói về vấn đề này, nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đã đưa ra một quan niệm mới có cơ sở lý luận và ý nghĩa thực tiễn như sau: “Đổi mới tư duy là nhiệm vụ cấp thiết trước mắt nhưng đồng thời cũng là một công việc lâu dài, phải tiến hành một cách khoa học, nghiêm túc… Trong quá trình đổi mới tư duy, tất nhiên không chỉ có phê phán mà chủ yếu là phải suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, cá nhân và tập thể cùng đổi mới và sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI” [2; tr108]. Một lần nữa, Đảng Cộng sản lại tỏ rõ bản lĩnh chính trị và sứ mạng lịch sử trọng đại đối với đất nước, dân tộc. Từng bước đã uyển chuyển khéo léo mà kiên định chắc chắn, Đảng đã lãnh đạo thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn diện, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, đưa đất nước ta vượt qua khủng hoảng để vươn lên một tầm cao mới.
Và được thể hiện rõ qua hai thời kì lớn dưới đây: 1. Thời kì từ 1975 đến 1985 Sau ngày miền Nam được giải phóng, nhân dân cả nước khẩn trương bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Đường lối lãnh đạo của Đảng thời kì này được cụ thể hóa trong những mục tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ II (1976 – 1980) và lần thứ III (1981 – 1985). Bên cạnh một số thành tựu bước đầu như: thiết lập được một Nhà nước thống nhất, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp từng bước được cải thiện; cơ sở vật chất, kỹ thuật được khôi phục, tăng cường; bảo đảm an ninh chính trị,.
Tuy nhiên, thực tiễn Cách mạng đã bộc lộ khá rõ nhiều bất cập, chủ quan trong đường lối, chính sách và trong chỉ đạo thực hiện về cải tạo và cơ cấu các thành phần kinh tế; về xác định mục tiêu và bước đi thích hợp trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật; về cơ chế điều hành, quản lí kinh tế; về lưu thông phân phối… Hậu quả là đất nước phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng như: thu nhập quốc dân không đảm bảo được tiêu dùng xã hội; các mặt hàng thiết yếu như lương thực, vải vóc, thuốc men đều hạn chế; phân phối lưu thông gặp nhiều trắc trở; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chưa được củng cố, vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh suy yếu, các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa chưa được cải tạo và sử dụng hợp lí… Thêm vào đó, tình hình quốc tế cũng có những tác động không tốt. Nhiều nước trong phe xã hội chủ nghĩa lâm vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng rồi tan 7 rã. Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch quốc tế ra sức tiến hành cuộc phản kích nhằm thủ tiêu hệ thống xã hội chủ nghĩa. Việt Nam trở thành một trong những mục tiêu phá hoại chủ yếu của chúng.
Thực tế đó đã khiến cho đời sống nhân dân, nhất là nông dân và những người hưởng lương Nhà nước gặp rất nhiều khó khăn. Quần chúng giảm sút lòng tin đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của Nhà nước. Nhìn chung, ở thời kì năm 1975 – 1985, Nhà nước vẫn còn vận hành theo cơ chế cũ – cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Kinh tế quốc doanh giữ vai trò độc quyền nhưng không phát huy được hiệu quả.
Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa (tư bản, cá thể,…) bị xóa bỏ một cách chủ quan, nóng vội. Những nhược điểm của mô hình ấy đã trở thành sức cản lớn đối với sự phát triển, dẫn đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội gay gắt. Thực tiễn trên là bài học quý giá để Đảng phát huy cao độ ý chí quyết tâm tìm tòi, sáng tạo các giải pháp khắc phục một cách hữu hiệu. Mặc khác, từ những bức xúc đời sống đã dẫn đến sự đổi mới tất yếu trong từng bộ phận ở các cơ sở, địa phương.
Đó là những cứ liệu sống động, làm tiền đề tốt cho công cuộc đổi mới toàn diện được mở ra từ Đại hội VI của Đảng ở giai đoạn tiếp theo. Thời kì từ 1986 đến nay Thực trạng đất nước vào giữa thập niên 80 với những khó khăn gay gắt và phức tạp đã đặt ra một yêu cầu khách quan, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp Cách mạng. Đảng phải đổi mới sự lãnh đạo một cách toàn diện, phải đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế. Cần dũng cảm đối diện với sự thật để nhận định đánh giá đúng tình hình, từ đó xác định cho thật sát mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân trong thời gian trước mắt và đề ra những quyết sách, giải pháp hữu hiệu.
Đại hội Đảng lần thứ VI (12/1986) đã diễn ra theo tinh thần đó. Từ sự phân tích thấu đáo, tổng kết được những bài học kinh nghiệm quý báu. Đại hội đã chủ trương đổi mới một cách toàn diện đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kì quá độ ở nước ta.