CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án 1. Những công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho công chức 1. Các công trình nghiên cứu trong nước Các công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho công chức khá khiêm tốn, có một số nghiên cứu tiêu biểu sau: Trong quá trình Việt Nam đang mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế với các nước trên thế giới và khu vực.
Với tiêu chí nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của công cuộc hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, bên cạnh những yêu cầu về kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức QLNN, kiến thức hợp tác quốc tế, tin học…, thì yêu cầu về ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh với công chức CQHCNN Trung ương là vô cùng quan trọng. Trong nội dung bài viết “Sử dụng tiếng Anh đối với công chức cơ quan hành chính nhà nước Trung ương trong bối cảnh hội nhập quốc tế” của tác giả Giáp Thị Yến (2017), công chức CQHCNN Trung ương cần nâng cao trình độ ngoại ngữ lên trên mức hiện có và sử dụng được tiếng Anh để tự giao dịch, nghiên cứu tài liệu trong phạm vi chuyên môn của mình. Tác giả đã phát phiếu khảo sát để đánh giá về mức độ sử dụng tiếng Anh của công chức, kết quả khảo sát cho thấy chỉ có 25,7% công chức sử dụng được tiếng Anh thành thạo, rơi chủ yếu vào Bộ Ngoại giao, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Giáo dục và Đào tạo …., có đến 67% công chức khẳng định chỉ sử dụng tiếng Anh được ở mức trung bình, có nghĩa chỉ đủ giao tiếp trong tình huống thông thường, chưa đủ khả năng làm việc trực tiếp với đối tác nước ngoài và thực hiện các công việc chuyên môn, và có 7,3% công chức 22 luan an tự đánh giá là tiếng Anh sử dụng kém. Tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh trong công việc như sau: Thứ nhất, bản thân công chức cần đầu tư thời gian và chú tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao năng lực tiếng Anh lên trên mức hiện có.
Thứ hai, cơ quan quản lý và sử dụng công chức tổ chức điều tra, đánh giá, rà soát lại năng lực, trình độ tiếng Anh của đội ngũ công chức; tạo điều kiện về thời gian, kinh phí và chú ý đến môi trường sử dụng tiếng Anh sau bồi dưỡng. Thứ ba, cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cần ban hành chương trình, giáo trình bồi dưỡng tiếng Anh phù hợp với mục tiêu bồi dưỡng và yêu cầu sử dụng tiếng Anh của công chức, bố trí cơ sở vật chất phù hợp. Thứ tư, đưa ra yêu cầu về trình độ, yêu cầu sử dụng tiếng Anh phù hợp với từng vị trí việc làm của công chức, từ đó đưa ra lộ trình bồi dưỡng, đề xuất kinh phí, khảo thí, kiểm định chất lượng sau bồi dưỡng. Trong bài viết, tác giả đã phân tích và làm rõ vai trò quan trọng của ngoại ngữ đối với cán bộ, công chức trong việc tiếp cận tri thức, văn hóa thế giới, trong đàm phán, cập nhật thông tin, và mang lại cơ hội thăng tiến trong công việc.
Bên cạnh đó, tác giả cũng nêu ra một số lý do khiến cán bộ, công chức chưa học tốt ngoại ngữ, từ đó đưa ra sáu đề xuất nâng cao hiệu quả việc học ngoại ngữ: thứ nhất, động cơ học tập rõ ràng; thứ hai, giáo trình, chương trình học phù hợp; thứ ba, học các cụm từ, câu hoàn chỉnh; thứ tư, kết hợp các kỹ năng trong quá trình học; thứ năm, học cách ghi nhớ và thứ sáu, tạo môi trường học tập và giao tiếp cho chính bản thân mình. [57] Bài viết “Một số giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ, công chức, viên chức hiện nay” (2013) của tác giả Giáp Thị Yến, tác giả đã khái quát về công tác đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ trong thời gian vừa qua, và cũng nhận định giữa bằng cấp và năng lực thực tế khác nhau quá xa, nhiều cán bộ, công chức có bằng cấp chứng chỉ nhưng lại không dùng được 23 luan an ngoại ngữ, có người có ngoại ngữ nhưng do được bố trí ở những vị trí công việc ít yêu cầu năng lực ngoại ngữ nên dần mai một đi….Để công tác quản lý, đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ, công chức đạt hiệu quả, tác giả đã đề xuất một số giải pháp cơ bản sau: Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các cấp lãnh đạo quản lý và đội ngũ cán bộ, công chức về việc học tập nâng cao trình độ ngoại ngữ. Đối với cán bộ lãnh đạo quản lý nên xây dựng chiến lược nâng cao trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực của cơ quan đơn vị bằng cách, yêu cầu trình độ ngoại ngữ chuẩn ngay từ khi tuyển dụng, đưa ra các chính sách linh hoạt vừa mang tính khuyến khích vừa mang tính bắt buộc. Tạo điều kiện cho cán bộ, công chức học ngoại ngữ thông qua các phương pháp đa dạng, phong phú, tiện lợi phù hợp với điều kiện của từng cơ quan, đơn vị, ví dụ: các khóa học trực tuyến, từ xa…và công chức phải cam kết sử dụng được ngoại ngữ trong công việc; Thứ hai, cần đổi mới tổng thể trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, học tập và giảng dạy ngoại ngữ như xây dựng chương trình, giáo trình phù hợp, sắp xếp thời lượng đào tạo, bồi dưỡng hợp lý, đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, xây dựng chuẩn đầu ra đáp ứng yêu cầu của đơn vị chủ quản, tạo môi trường tự học, tự sử dụng ngoại ngữ cho cán bộ, công chức.
Bên cạnh đó, cần chuẩn hóa đội ngũ giảng viên, điều chỉnh phương pháp cho phù hợp với đội ngũ cán bộ, công chức; Thứ ba, cơ quan, đơn vị bố trí sử dụng ở vị trí phù hợp với đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ ngoại ngữ đạt chuẩn sau đào tạo, bồi dưỡng, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho họ có điều kiện phát huy tốt nhất những kiến thức đã học vào công việc và mang lại lợi ích thiết thực cho cơ quan đơn vị.[56] Ngoài ra còn một số công trình nghiên cứu trong hệ thống giáo dục quốc dân, các bài viết đề cập đến các góc độ khác nhau trong đào tạo, bồi dưỡng ngoại ngữ. Bài viết “Bàn thêm về cái đích của dạy- học ngoại ngữ theo quan điểm giao tiếp- cá thể hóa” đăng trên Tạp chí Khoa học & Công nghệ, Đại học Đà Nẵng của tác giả Nguyễn Văn Tụ khẳng định: Năng lực ngôn ngữ 24 luan an cho dù có tốt thì cũng chưa phải là mục đích của việc dạy- học tiếng mà cái đích của dạy- học ngoại ngữ là giúp cho người học hình thành và phát triển năng lực giao tiếp trong từng giai đoạn học tập, cho từng dạng hoạt động của lời nói. Nên muốn để hoạt động dạy - học ngoại ngữ đáp ứng được nhu cầu phát triển của xã hội cũng như nhu cầu hội nhập trong khu vực và thế giới thì các giáo viên và các nhà giáo học pháp cần làm rõ tính giao tiếp và tính hệ thống, vai trò của người học trong cả quá trình học tập, nội dung dạy - học, việc lựa chọn và dạy ngữ liệu, phương thức giới thiệu, phương thức luyện tập và kiểm tra, đánh giá. [49] Tác giả Cao Thị Thanh Hương (2005) cũng đồng quan điểm như vậy.
Trong bài viết “Đào tạo ngoại ngữ nhằm phục vụ quá trình hội nhập và phát triển của đất nước”, tác giả đã nhấn mạnh đến một thực tế là việc dạy ngoại ngữ hiện nay vẫn chú trọng nhiều đến năng lực ngôn ngữ, cụ thể là những yếu tố cấu trúc ngôn ngữ như: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp mà chưa chú trọng đến phát triển năng lực giao tiếp, và kiến thức ngoại ngữ chuyên ngành. Để ngoại ngữ thực sự phục vụ quá trình hội nhập và phát triển thì người lao động bắt buộc phải làm việc trong một môi trường vừa hợp tác, vừa cạnh tranh với lao động nước ngoài nên bên cạnh năng lực ngoại ngữ giao tiếp thì phải đáp ứng được kiến thức chuyên ngành. Từ đó, tác giả cũng đưa ra một số đề xuất như sau: nên điều tra về nhu cầu của sinh viên, nhu cầu của thị trường lao động để thiết kế chương trình đào tạo cho phù hợp; nên có sự phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị chuyên môn và đơn vị đào tạo ngoại ngữ để có một quy trình đào tạo ngoại ngữ chất lượng và sát với thực tế sử dụng; nên có sự phối kết hợp trong việc xây dựng chương trình khung hoặc chương trình chi tiết, trong công tác biên soạn một số giáo trình ngoại ngữ chuyên ngành để dùng chung cho nhiều trường có chung môn học. [25] Cũng trong bài viết khác “Đào tạo ngoại ngữ theo hướng chuyên ngành không còn là sự lựa chọn mà là cấp bách”, tác giả Cao Thị Thanh Hương 25 luan an (2004) khẳng định đào tạo ra một nguồn nhân lực vừa có kiến thức chuyên ngành vừa có kiến thức về ngoại ngữ là hợp với xu hướng đào tạo trên thế giới nên “chỉ đào tạo cử nhân chuyên ngoại ngữ ở các trường chuyên ngữ hoặc chỉ đào tạo ngoại ngữ cơ sở ở các trường đại học không chuyên ngữ là cần thiết nhưng chưa đủ” [28, tr.399] mà đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành “phải được gắn với môi trường làm việc nên không thể nằm ở trường đào tạo chuyên ngữ mà phải nằm ở trường đào tạo chuyên ngành” [24, tr.
Cùng chung quan điểm đó, trong bài viết “Về vấn đề phát triển ngoại ngữ chuyên ngành trong quá trình hội nhập quốc tế”, tác giả Đào Hồng Thu (2002) cho rằng ngoại ngữ chuyên ngành như “chiếc cầu nối kinh tế và văn hóa Việt Nam với thế giới bên ngoài” [42, tr.1] nên vai trò của ngoại ngữ chuyên ngành và giáo viên dạy ngoại ngữ chuyên ngành là vô cùng to lớn và mang tính chất quyết định chất lượng của quá trình hội nhập. Vì vậy giảng viên phải nắm được phương pháp giảng dạy và đưa ra các biện pháp giúp người học thực hiện được mục tiêu đề ra, tự lực thực hiện hành động học của mình, đặc biệt trong môi trường xã hội không có giao tiếp hàng ngày bằng ngôn ngữ được học như hiện nay. Phương pháp dạy- học ngoại ngữ là vấn đề được rất nhiều học giả trong nước quan tâm.