CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO HƯỚNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC VẬN DỤNG KIẾN THỨC VÀO THỰC TIỄN 1. Năng lực và phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông 1. Khái niệm năng lực Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực.
Theo từ điển Tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [3]. Theo từ điển tâm lý học, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định [6]. Theo nhà tâm lý học A.
Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: năng lực là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. Năng lực là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực. Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích [6]. Như vậy khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ …) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn [8].
Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên có thể định nghĩa như sau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí … năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”. Như vậy, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói về một lĩnh vực cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực dạy học của hoạt động giảng dạy … Năng lực của học sinh là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội … thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội. Cấu trúc năng lực Năng lực là sự kết hợp của các yếu tố kiến thức, kĩ năng với thái độ, hứng thú… của một cá nhân để giải quyết một tình huống có thực trong cuộc sống. Như vậy, để hình 5 thành năng lực dạy học theo hướng trải nghiệm, người GV cần có kiến thức chuyên môn và kĩ năng tổ chức dạy học cũng như hứng thú để thực hiện nội dung chương trình giáo dục phổ thông mới.
Trong quá trình phát triển năng lực dạy học, các nhà giáo dục cần chú ý đến các thành phần trong cấu trúc năng lực để việc bồi dưỡng đạt hiệu quả. Hình 1: Cấu trúc năng lực dạy học 1. Một số năng lực chung và năng lực đặc thù môn học cần hình thành và phát triển cho học sinh trung học phổ thông Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp. Các năng lực này được hình thành và phát triển dựa trên bản năng di truyền của con người, quá trình giáo dục và trải nghiệm trong cuộc sống; đáp ứng yêu cầu của nhiều loại hình hoạt động khác nhau.
Những năng lực chung sẽ được nhà trường và giáo viên giúp các em học sinh phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông là: Năng lực tự chủ và tự học Năng lực giao tiếp và hợp tác Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo Năng lực chuyên môn là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động. Đây cũng được xem như một năng khiếu, giúp các em mở rộng và phát huy bản thân mình nhiều hơn. Các năng lực chuyên môn được rèn luyện và phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông mới là: Ngôn ngữ Tính toán Tin học Thể chất Thẩm mỹ Công nghệ Tìm hiểu tự nhiên và xã hội 6 Hình 2: 5 phẩm chất và 10 năng lực HS cần đạt được Bảng 1.1 Bảng biểu hiện cụ thể của năng lực vật lí (Chương trình giáo dục phổ thông môn Vật lí theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) Năng lực Chỉ số hành vi thành phần [VL1. Nhận biết và nêu được các đối tượng, khái niệm, hiện tượng, quy luật, quá trình vật lí.
Trình bày được các hiện tượng, quá trình vật lí; đặc điểm, vai trò của các hiện tượng, quá trình vật lí bằng các hình thức biểu đạt: nói, viết, đo, tính, vẽ, lập sơ đồ, biểu đồ. Tìm được từ khoá, sử dụng được thuật ngữ khoa học, kết nối được thông tin theo logic có ý nghĩa, lập được dàn ý khi đọc và Nhận trình bày các văn bản khoa học. thức kiến [VL1. So sánh, lựa chọn, phân loại, phân tích được các hiện tượng, thức vật lí quá trình vật lí theo các tiêu chí khác nhau.
Giải thích được mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình. Nhận ra điểm sai và chỉnh sửa được nhận thức hoặc lời giải thích; đưa ra được những nhận định phê phán có liên quan đến chủ đề thảo luận. Nhận ra được một số ngành nghề phù hợp với thiên hướng của bản thân. Đề xuất vấn đề liên quan đến vật lí: Nhận ra và đặt được câu hỏi liên quan đến vấn đề; phân tích được bối cảnh để đề xuất được vấn đề nhờ kết nối tri thức, kinh nghiệm đã có và dùng ngôn ngữ của mình để biểu đạt vấn đề đã đề xuất.
Đưa ra phán đoán và xây dựng giả thuyết: Phân tích vấn đề để nêu được phán đoán; xây dựng và phát biểu được giả thuyết cần tìm hiểu. Lập kế hoạch thực hiện: Xây dựng được khung logic nội dung tìm hiểu; lựa chọn được phương pháp thích hợp (quan sát, thực nghiệm, điều tra, phỏng vấn, tra cứu tư liệu); lập được kế hoạch triển Tìm tòi và khai tìm hiểu. khám phá [VL2. Thực hiện kế hoạch: Thu thập, lưu giữ được dữ liệu từ kết thế giới tự quả tổng quan, thực nghiệm, điều tra; đánh giá được kết quả dựa trên nhiên dưới phân tích, xử lí các dữ liệu bằng các tham số thống kê đơn giản; so góc độ vật sánh được kết quả với giả thuyết; giải thích, rút ra được kết luận và lí điều chỉnh khi cần thiết.
Viết, trình bày báo cáo và thảo luận: Sử dụng ngôn ngữ, hình vẽ, sơ đồ, biểu bảng để biểu đạt được quá trình và kết quả tìm hiểu; viết được báo cáo sau quá trình tìm hiểu; hợp tác được với đối tác bằng thái độ tích cực và tôn trọng quan điểm, ý kiến đánh giá do người khác đưa ra để tiếp thu tích cực và giải trình, phản biện, bảo vệ được kết quả tìm hiểu một cách thuyết phục. Ra quyết định và đề xuất ý kiến, giải pháp: Đưa ra được quyết định xử lí cho vấn đề đã tìm hiểu; đề xuất được ý kiến khuyến nghị vận dụng kết quả tìm hiểu, nghiên cứu, hoặc vấn đề nghiên cứu tiếp. Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn. Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực dụng tiễn.
kiến thức [VL3. Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực vật lí vào hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới. thực tiễn [VL3. Nêu được giải pháp và thực hiện được một số giải pháp để bảo vệ thiên nhiên, thích ứng với biến đổi khí hậu; có hành vi, thái độ hợp lí nhằm phát triển bền vững.
Năng lực vận dụng kiến thức Vật lý vào thực tiễn 1. Khái niệm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn Năng lực vận dụng kiến thức vật lý vào các tình huống thực tiễn là khả năng của người học giải quyết những vấn đề đặt ra một cách nhanh chóng, áp dụng những kiến thức vật lý đã lĩnh hội vào những tình huống, những hoạt động thực tiễn để tìm hiểu thế giới xung quanh và có khả năng biến đổi nó. Năng lực vận dụng kiến thức vật lý vào tình huống thực tiễn rất đa dạng, bao gồm: biết vận dụng kiến thức vật lý để giải thích các sự vật, hiện tượng; các tình huống thực 8 tiễn; trên cơ sở kiến thức vật lý đã lĩnh hội được dự đoán các tình huống thực tiễn; biết vận dụng kiến thức để tính toán, dự trù cho một công việc, một dự án …; đề xuất được giải pháp cho một tình huống thực tiễn; biết đánh giá giải pháp đã đề xuất và thực hiện [7], [8]. Các thành tố và tiêu chí đánh giá của năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn Từ các định nghĩa trên, chúng tôi thấy rằng NL VDKTVL vào thực tiễn có 4 chỉ số hành vi như sau: [VL3.
Giải thích, chứng minh được một vấn đề thực tiễn. Đánh giá, phản biện được ảnh hưởng của một vấn đề thực tiễn. Thiết kế được mô hình, lập được kế hoạch, đề xuất và thực hiện được một số phương pháp hay biện pháp mới.