Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực Trong xã hội, từ xưa đến nay ta hay nhắc đến vấn đề năng lực. Tuynhiên, vấn đề năng lực lại chỉ được ngành giáo dục nước ta quan tâm trong những năm gần đây, khi nền giáo dục nước nhà đang chuyển mình mạnh mẽ theo hướng mới, khác hẳn với giáo dục trước đây - nghĩa là hướng đến hình thành và phát triển năng lực cho học sinh. Trước tiên, chúng ta cần phải có cái nhìn cụ thể nhất về năng lực thông qua khái niệm của nó.
Khái niệm năng lực Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo từ điển tiếng Việt: “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.” Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm: năng lực “là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Trong các giáo trình tâm lý học, các tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm về năng lực. Trong đó, đa số đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt.
Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy. Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ. Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo; những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động, đồng thời đảm bảo cho hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn. Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên, có thể định nghĩa như sau: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…, năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”.
Cấu trúc và các thành phần năng lực Trong chương trình giáo dục phổ thông theo định hướng phát triển năng lực hiện nay, người GV cần phải xác định được cấu trúc và các thành phần năng lực, từ đó có hướng đi phù hợp, đúng đắn trong việc bồi dương, phát triển năng lực người học. Có nhiều loại năng lực khác nhau và việc mô tả cấu trúc, các thành phần năng lực cũng khác nhau. Ở đây chúng tôi tiếp cận theo cấu trúc các thành phần của năng lực. Cấu trúc này được mô tảlà sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung - chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động. Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn.
Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận - giải quyết vấn đề. Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp.
Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc - đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm. Cấu trúc bốn thành phần năng lực nêu trên là phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo quan điểm của UNESCO đưa ra: mỗi thành phần năng lực tương ứng với một trụ cột giáo dục. Năng lực chuyên môn là việc người học bổ sung vào vốn tri thức của bản thân các kiến thức lí thuyết về một môn học, một lĩnh vực nào đó, có khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn một cách hiệu quả (học để biết).
Năng lực phương pháp là khả năng tiếp nhận, xử lí các thông tin, tình huống trong bài học, để hình thành và phát triển năng lực này cần một quá trình lâu dài, cần sự kiên trì, nhẫn nại của người học (học để làm). Năng lực xã hội chính là khả năng tiếp xúc, giao tiếp và hợp tác với các cá thể xung quanh của người học. Năng lực cá thể hướng đến cá nhân người học trong việc phát triển bản thân một cách hoàn thiện (học để tự khẳng định). Tất cả được thể hiện thông qua hình ảnh dưới đây: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, việc hình thành, bồi dưỡng và phát triển năng lực người học không chỉ hướng đến việc phát triển năng lực làm việc, nghiên cứu độc lập của cá nhân mà còn nói đến sự phối hợp, hợp tác với các cá thể khác trong quá trình học.
Người học không chỉ thông qua hoạt động học để khẳng định năng lực bản thân, không chỉ độc lập làm việc để thu thập tri thức mà trong quá trình ấy cần trau dồi cho bản thân các cách làm việc, cách nghiên cứu, phân tích, đánh giá và kể cả hợp tác với người học khác để cùng nhau nghiên cứu. Sự ưu việt của dạy học theo định hướng phát triển năng lực Chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực (định hướng phát triển năng lực) nay còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 90 của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế. Giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp. Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của quá trình nhận thức.Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là ”sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học.
Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc điều khiển “đầu vào” sang điều khiển “đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS.Chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức là đạt được kết quả đầu ra mong muốn. Trong chương trình định hướng phát triển năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực (Competency). Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được. HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình.
Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra. Dưới đây là một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng phát triển năng lực: - Mục tiêu giáo dục: Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục - Nội dung giáo dục: Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn. Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết. - Phương pháp dạy học: + GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức.
Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…; + Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Hình thức dạy học: Tổ chức hình thức học tập đa dạng; chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học - Đánh giá kết quả học tập của HS: Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn. Năng lực thẩm mỹ Nhắc đến việc đọc hiểu tác phẩm văn chương, không thể không nhắc đến năng lực thẩm mỹ. Muốn cảm nhận được toàn vẹn, sâu sắc hàm ý ẩn chứa bên trong mà mỗi nghệ sĩ gửi gắm qua ngôn từ, qua thế giới hình tượng, người thưởng thức văn học cần phải có năng lực thẩm mỹ.