Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG KỸ NĂNG NGHỀ CHO THANH NIÊN ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1. Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề Sự phát triển xã hội trong thời đại hội nhập đòi hỏi ở người lao động phải được học tập, được bồi dưỡng thường xuyên và nhận thức sâu sắc rằng muốn cống hiến được nhiều hơn cho ngành nghề và cho xã hội thì phải biết tích lũy tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, muốn có được điều đó, thì người lao động phải thường xuyên rèn luyện, bồi dưỡng và học tập suốt đời. Cùng với công tác đào tạ ạo lại thì công tác bồi dưỡng trong giai đoạn hiện nay là một hoạt động rất phong phú đa dạng, luôn có yêu cầu cao nhằm bổ sung kịp thời những kiến thức, kỹ năng, thái độ để không ngừng nâng cao về năng lực, trình độ, phẩm chất của nguồn nhân lực. Đối với người lao động, KN nghề nghiệp rất quan trọng, là hành trang không thể thiếu được của người lao động trong hoạt động nghề nghiệp của mình.
Chính vì vậy, vấn đề KN và kĩ năng nghề, bồi dưỡng kĩ năng nghề được rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Những nghiên cứu về kĩ năng và kĩ năng nghề Nhìn một cách tổng thể về các công trình nghiên cứu kỹ năng, việc nghiên cứu kỹ năng được tiến hành từ hai quan điểm sau: *Quan điểm thứ nhất: nghiên cứu KN trên cơ sở của Tâm lý học hành vi mà đại diện là các tác giả như: J. * Quan điểm thứ hai: nghiên cứu KN trên cơ sở Tâm lý học hoạt động mà đại diện là các nhà Tâm lý học Liên Xô. Các công trình nghiên cứu của các tác giả đi theo hai hướng nghiên cứu chính là: 7 - Hướng thứ nhất: bao gồm các công trình nghiên cứu ở mức độ khái quát.
Tuy chỉ nghiên cứu ở mức độ khái quát, song các tác giả cũng đã nghiên cứu bản chất, khái niệm KN, các giai đoạn, các quy luật, các điều kiện hình thành KN, mối quan hệ giữa KN và kỹ xảo. Đại diện của hướng nghiên cứu thứ nhất này có các tác giả như: A. - Hướng thứ hai: các công trình nghiên cứu KN ở mức độ cụ thể trong các lĩnh vực khác nhau như lĩnh vực hoạt động sư phạm, hoạt động lao động, hoạt động sản xuất. Cụ thể là: + Những công trình nghiên cứu về KN lao động, sản xuất có trong tác phẩm của các tác giả ở nước ngoài như: V.
Ở trong nước, tác giả Trần Trọng Thủy nghiên cứu về KN lao động công nghiệp [43]. Những công trình nghiên cứu về đào tạo, bồi dưỡng kĩ năng nghề Chúng ta có thể kể đến mộ - - ỗ cứu - Đề tài ọc chuyên nghiệ N tác giả 8 - Đề tài ễ - Đề tài tác giả i tư bản chủ nghĩa ỷ ạo, bồi dưỡng kĩ năng nghề ấn đề Xã hội chủ nghĩa. bồi dưỡng kĩ năng nghề - V - - - u - - - - - 9 - -14). ạo, bồi dưỡng kĩ năng nghề c ồi dưỡng kĩ năng nghề cho thanh niên đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới.
Một số khái niệm cơ bản 1. Bồi dưỡng Theo quan niệm của tổ chức Unesco là: “bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn, nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”. Theo tác giả Nguyễn Minh Đường “Bồi dưỡng có thể coi là một quá trình cập nhật kiến thức và kĩ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học, bậc học và thường xuyên được xác định bằng một chứng chỉ''.
Qua các quan điểm trên, có thể nói bồi dưỡng thực chất bổ sung kiến thức kĩ năng để nâng cao trình độ trong lĩnh vực chuyên môn nào đó, giúp con người mở mang hoặc nâng cấp hệ thống tri thức, kĩ năng, kĩ xảo chuyên môn nghiệp vụ có sẵn nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả công việc đang làm. Kỹ năng và kỹ năng nghề 1. Kỹ năng Trong từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên đã định nghĩa: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” 10 Khi bàn về kỹ năng, Nguyễn Kế Hào và Nguyễn Quang Uẩn cũng cho rằng: “Kỹ năng là khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương thức) để giải quyết một nhiệm vụ mới”. Xem xét các công trình nghiên cứu chúng tôi thấy nổi lên hai khuynh hướng cơ bản: Khuynh hướng thứ nhất xem xét kỹ năng nghiêng về mặt kỹ thuật, thao tác của hành động, hoạt động.
Theo tác giả Trần Trọng Thủy: “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động. Con người nắm được cách thức hành động – tức kỹ thuật hành động là có kỹ năng”. Kruchexki: “Kỹ năng là các phương thức thực hiện hoạt động – những cái mà con người nắm vững”. Ông cho rằng: Chỉ cần nắm vững phương thức hành động là con người đã có kỹ năng, không cần đến kết quả của hành động.
Trong cuốn Tâm lý học cá nhân, A. Côvaliop cũng xem “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” và ở đây Côvaliop cũng không đề cập đến kết quả của hành động. Theo ông, kết quả của hành động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan trọng hơn cả năng lực của con người chứ không đơn giản là cứ nắm vững cách thức hành động là đem lại kết quả tương ứng. Khuynh hướng thứ hai, xem xét kỹ năng nghiêng về mặt năng lực của con người.
Theo quan niệm này thì kỹ năng vừa có tính ổn định, vừa có tính mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, vừa có tính mục đích. Khuynh hướng này có N. Platonov, Nguyễn Quang Uẩn. Levitop thì kỹ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định.
Theo ông thì người có kỹ năng hành động là người phải nắm được và vận dụng đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Ông còn nói thêm, con người có 11 kỹ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải biết vận dụng vào thực tế. Các nhà Tâm lý học nổi tiếng của Liên Xô như K. Goolubev đã nghiên cứu rất kỹ và rất chú ý tới mặt kết quả của hành động.
Các ông nhấn mạnh: Kỹ năng là năng lực của người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện khác nhau. Kỹ năng bao hàm cả tri thức, kỹ xảo và được hình thành trên cơ sở của chúng. Platonov khẳng định: “Cơ sở tâm lý của kỹ năng là sự thông hiểu mối liên hệ giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức hành động”. Petropxki cũng định nghĩa: “Kỹ năng là cách thức hành động dựa trên cơ sở tổ hợp những tri thức và kỹ xảo.
Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong điều kiện quen thuộc mà ngay cả trong điều kiện đã thay đổi”. Tsebuseva trong giáo trình “Tâm lý học lao động” đã viết: “Kỹ năng với tư cách là khả năng thực hiện một hành động nào đó dựa trên những tri thức và kỹ xảo được hoàn thiện lên cùng chúng”. Một số tác giả khác cũng đưa ra các khái niệm tương tự. “Kỹ năng là năng lực của con người biết vận hành các tao tác của một hành động theo đúng quy trình”.
Về thực chất, hai khuynh hướng này không phủ định lẫn nhau. Sự khác nhau giữa hai khuynh hướng chủ yếu ở chỗ mở rộng hay thu hẹp thành phần cấu trúc của kỹ năng mà thôi.Trong quá trình nghiên cứu, người ta phân ra hai bậc trình độ của kỹ năng: kỹ năng nguyên sinh và kỹ năng thứ sinh (theo nghiên cứu trong Tâm lý học) Kỹ năng nguyên sinh là những kỹ năng được hình thành lần đầu qua các hành động đơn giản. Những kỹ năng này là cơ sở để hình thành kỹ xảo.Petropxki cho rằng: “Kỹ xảo là kỹ năng được củng cố và tự động hóa” 12 Kỹ năng thứ sinh hay kỹ năng bậc cao là những kỹ năng được hình thành trên cơ sở của tri thức và kỹ xảo. “Kỹ năng là cách thức hành động dựa trên tổ hợp những tri thức và kỹ xảo” Khuynh hướng thứ nhất chỉ thừa nhận sự tồn tại của loại kỹ năng thứ nhất, tức là các kỹ năng mang tính thao tác kỹ thuật của hành động, chúng là cơ sở của việc hình thành kỹ xảo.
Khuynh hướng thứ hai thừa nhận sự tồn tại hai loại kỹ năng nhưng nhấn mạnh loại thứ hai, loại kỹ năng mang tính năng lực là chủ yếu. Vì thế, khái niệm kỹ năng họ đưa ra có sự khác nhau. Các nhà Giáo dục học cũng phân kỹ năng thành hai loại: kỹ năng bậc 1 và kỹ năng bậc 2. Kỹ năng bậc 1 là khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ Muốn có kỹ năng, trước hết phải có kiến thức làm cơ sở cho việc hiểu biết về nội dung công việc mà kỹ năng hướng vào và tri thức về bản thân kỹ năng cũng như quy trình luyện tập từng thao tác riêng rẽ cho đến khi thực hiện một hành động đúng với mục đích yêu cầu đề ra.
Loại kỹ năng này thông qua luyện tập đến mức hoàn hảo, các thao tác được diễn ra hoàn toàn tự động hóa, không cần có sự hiện diện của ý thức hoặc sự tham gia của ý thức rất ít thì biến thành kỹ xảo. Loại kỹ năng này như: kỹ năng viết, kỹ năng đi xe đạp, kỹ năng đan len. Kỹ năng bậc 2 là khả năng thực hiện hành động, hoạt động một cách thành thạo, linh hoạt sáng tạo phù hợp với mục tiêu trong các điều kiện khác nhau. Để đạt tới kỹ năng này cần trải qua các giai đoạn tập luyện trên cơ sở kỹ năng bậc 1 và kỹ xảo, sao cho mỗi hành động người ta hoàn toàn không bận tâm đến các thao tác nữa mà mọi suy nghĩ tập trung vào việc tìm ra biện pháp, phương pháp tốt nhất phù hợp với những hoàn cảnh, điều kiện luôn biến động để đạt được mục đích.