MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Kiểm tra đánh giá là một hoạt động thƣờng xuyên, giữ một vai trò quan trọng và quyết định chất lƣợng đào tạo. Đó là một khâu không thể tách rời của quá trình dạy học. Đây là khâu cuối cùng của quá trình dạy học nhƣng nó có tác động chính, trực tiếp đến mục tiêu dạy học và là động lực của quá trình dạy học.
Theo bộ Giáo dục và Đào tạo ( bộ GD&ĐT) từ năm học 2009-2010, tập trung chỉ đạo đổi mới kiểm tra, đánh giá( KTĐG) thúc đẩy đổi mới phƣơng pháp dạy học ( PPDH) các môn học và hoạt động giáo dục, khắc phục tình trạng dạy học theo lối đọc- chép. Để đáp ứng đƣợc hƣớng đổi mới PPDH thì Bộ GD&ĐT cũng đƣa ra các yêu cầu khi đổi mới đánh giá kết quả học tập: Kiểm tra đánh giá phải hƣớng vào việc bám sát mục tiêu của từng bài, từng chƣơng và mục tiêu giáo dục của môn học ở từng lớp cấp. Hƣớng tới yêu cầu kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan kết quả học tập của học sinh. Đổi mới PPDH, đổi mới KTĐG nhằm góp phần tích cực quan trọng vào việc nâng cao chất lƣợng giáo dục trung học.
Trong tất cả các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập hiện nay thì trắc nghiệm khách quan là hình thức đáp ứng đƣợc yêu cầu của kiểm tra đánh giá bộ môn và yêu cầu về đổi mới đánh giá kết quả học tập của Bộ GD&ĐT. Đề trắc nghiệm khách quan thƣờng phủ kín toàn bộ nội dung môn học qua từng bài, từng chƣơng tránh dạy tủ, học tủ. Đồng thời đối với bài kiểm tra trắc nghiệm khách quan, việc chấm và cho điểm tƣơng đối khách quan, công bằng và chính xác. Theo thứ trƣởng bộ GD&ĐT Bành Tiến Long” .Đến năm 2008 tất cả các môn thi tốt nghiệp đều kiểm tra trắc nghiệm trừ môn Văn…”Trắc nghiệm khách quan ngày càng đƣợc áp dụng rộng rãi do tính ƣu việt của nó và trong giai đoạn thực hiện cuộc vận động 2 không“Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục” do ngành Giáo dục phát động hiện 4 nay.
Nó là sự lựa chọn cần thiết và đang đƣợc khuyến khích trong các kỳ thi, kiểm tra đánh giá. Đối với xã hội, kiểm tra đánh giá không dừng lại ở mức độ là nói lên kết quả của quá trình dạy học, mang đến thông tin cho ngƣời dạy và ngƣời học, nó còn mang ý nghĩa xác định năng lực cuối cùng của một cá nhân trên một phƣơng diện nào đó. Việc xây dựng ra một công cụ hay một cân đo với độ chính xác cao, có tính ổn định đánh giá đƣợc chính xác của ngƣời học về kiến thức, kỹ năng là điều rất cần thiết. Kết quả điều đó sẽ dẫn đến việc nhà trƣờng, cơ quan giáo dục cấp văn bằng chứng chỉ cho ngƣời học đƣợc chính xác, xã hội trả lƣơng cho ngƣời lao động đúng với thực lực, giúp xã hội phát triển, công bằng và ổn định.
Ngƣợc lại nếu kiểm tra đánh giá sai, văn bằng chứng chỉ sai, không chính xác sẽ đƣa đến việc trả lƣơng không đúng với thực lực, gây ảnh hƣởng đến sự phát triển của xã hội và tính công bằng trong xã hội. Vì các lý do trên và đồng thời với vai trò vừa là học viên lớp cao học giáo dục vừa là một giáo viên trẻ, qua quá trình tìm hiểu môn Công nghệ 6 tại các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre ngƣời nghiên cứu quyết định thực hiện đề tài: “ Biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ 6 tại các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre”. Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu. Đối tƣợng nghiên cứu: - Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6.
Khách thể nghiên cứu - Mục tiêu, nội dung môn Công nghệ 6 tại các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre. - Học sinh học môn Công nghệ 6 tại các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre. - Các giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Công nghệ 6 để góp ý, chỉnh sửa và đánh giá câu trắc nghiệm và phần mềm dùng trong kiểm tra đánh giá. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu - Biên soạnbộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6 tại các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm tỉnh Bến Tre. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu cơ sở lý luận về biên soạn bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan - Khảo sát thực trạng dạy và kiểm tra đánh giá môn công nghệ 6 tại các trƣờng trung học cơ sở trên địa bàn huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre - Biên soạn bộ câu trắc nghiệm môn Công nghệ 6 4. Giả thuyết nghiên cứu Nếu sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6 mà ngƣời nghiên cứu xây dựng thì việc kiểm tra đánh giá môn học đƣợc chính xác, khách quan, thuận lợi, nhanh chóng khi thu thập kết quả học sinh và nâng cao chất lƣợng dạy học. Giới hạn vấn đề nghiên cứu Bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan môn Công nghệ 6 tập trung biên soạn câu trắc nghiệm: đúng- sai, 4 lựa chọn, ghép hợp, câu điền khuyết.
Số câu trắc nghiệm thô là 300 câu, thử nghiệm với số lƣợng khoảng 135 học sinh. Phƣơng pháp nghiên cứu 6. Phƣơng pháp nghiên cứu tài liệu Tham khảo các tài liệu có liên quan đến luận văn viết về trắc nghiệm khách quan nhƣ sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu bồi dƣỡng thực hiện chƣơng trình môn Công nghệ 6, tài liệu hƣớng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Công nghệ THCS, các tài liệu tham khảo khác… nhằm đề ra giả thuyết khoa học và nội dung luận văn. Phƣơng pháp chuyên gia - Phỏng vấn giáo viên dạy môn Công nghệ 6 để làm rõ thực trạng công tác kiểm tra đánh giá của môn học này.
6 - Lấy ý kiến các chuyên gia về các câu hỏi trắc nghiệm đã đƣợc biên soạn.3 Phƣơng pháp thực nghiệm Thực nghiệm các câu hỏi trắc nghiệm khách quan đã đƣợc biên soạn thông qua các bài kiểm tra 15 phút, kiểm tra một tiết, kiểm tra học kỳ. Qua phƣơng pháp thực nghiệm nhằm chứng minh tính đúng đắn và tính khả thi của luận văn khi áp dụng vào quá trình kiểm tra, thi cử cũng nhƣ quá trình dạy học môn Công nghệ 6. Phƣơng pháp thống kê toán học Dùng các phƣơng pháp thống kê toán học để tổng hợp, phân tích câu hỏi trắc nghiệm. 7 PHẦN B: NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIÊN SOẠN BỘ CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM KHÁCH QUAN 1.
Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.1 Trên thế giới Trắc nghiệm có nguồn gốc từ các nƣớc phƣơng Tây do các nhà tâm lý học nghiên cứu vào giữa thế kỷ XIX. Khởi đầu vào năm 1879, Wichelm Weent thiết lập phòng thí nghiệm tâm lý học tại Leipzig ở Đức. Việc học và thi trên thế giới đã diễn ra từ hàng nghìn năm trƣớc đây nhƣng khoa học về đo lƣờng trong giáo dục thật sự có thể xem nhƣ bắt đầu cách đây chỉ khoảng trong một thế kỉ. Trong thế kỉ XX khoa học này phát triển xuất phát từ Châu Âu và tăng tốc mạnh mẽ khi du nhập vào Hoa Kỳ.
Thorndike là ngƣời đầu tiên đã dùng trắc nghiệm nhƣ một phƣơng pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức học sinh, bắt đầu dùng với môn số học và sau đó là đối với một số loại kiến thức khác. Năm 1905, Alfred Binet và Theodore Simon đã xây dựng thành công Trắc nghiệm trí tuệ Simon – Binet và tiếp đến đƣợc cải tiến tại đại học Stanford Mỹ bởi Lewis Terman năm 1916, sau đó nó đƣợc cải tiến liên tục và ngày nay đƣợc sử dụng với tên gọi là Trắc nghiệm trí tuệ IQ (Interlligence Quotient). Vào năm 1923 tại Mỹ Bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Acheevement Test ra đời Với việc đƣa vào chấm trắc nghiệm bằng máy IBM năm 1935, việc thành lập Hội quốc gia về Đo lƣờng trong giáo dục (National Council on Measurement in Eduacation – NCME) vào thập niên 1950, sự ra đời hai tổ chức tƣ nhân Eduacation Testing Services (ETS) năm 1947 và American College Testing (ACT) năm 1959, hai tổ chức làm dịch vụ trắc nghiệm lớn thứ nhất và thứ hai Hoa Kỳ, một ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành. Các thành tựu lý luận quan trọng của khoa học về đo lƣờng trong giáo dục đạt đƣợc cho đến thập niên 70 của thế kỷ trƣớc là “lý thuyết trắc nghiệm cổ điển” (Classical 8 test theory).
Còn bƣớc phát triển về chất của nó trong khoảng 4 thập niên vừa qua là “lý thuyết trắc nghiệm hiện đại” hoặc “lý thuyết đáp ứng câu hỏi” (Item Response Theory – IRT). IRT đã đạt đƣợc những thành tựu quan trọng nâng cao độ chính xác của trắc nghiệm và trên cơ sở lý thuyết đó, công nghệ trắc nghiệm thích ứng máy tính (Computer Adaptive Test – CAT) ra đời.[11; Trang16] Đến nay khoa học về đo lƣờng trong tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục. Mặc dù, những phê bình chỉ trích đối với khoa học này cũng xuất hiện thƣờng xuyên nhƣng chúng không đánh đổ đƣợc nó mà chỉ làm cho nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn.2 Tại Việt Nam Theo các chuyên gia cho rằng “ Trắc nghiệm khách quan về thành quả học tập đã áp dụng tại Việt Nam từ lúc nào thì khó mà xác định được.” Từ đầu thập niên 1950 học sinh Việt Nam đƣợc tiếp xúc với trắc nghiệm qua các cuộc khảo sát khả năng ngoại ngữ do các cơ quan quốc tế tổ chức. Từ năm 1960, các tập san giáo dục có đề cặp đến trắc nghiệm khách quan, tâm lý- giáo dục một cách sơ lƣợc.
Năm 1964 ở miền Nam đã thành lập một cơ quan đặc trách về trắc nghiệm và lấy tên “Trung tâm trắc nghiệm và hướng dẫn” cơ quan này phổ biến nhiều tài liệu trắc nghiệm. Đến cuối năm 1969 , các môn trắc nghiệm thành quả học tập và thống kê giáo dục- tâm lý mới đƣợc chính thức giảng dạy ở các lớp Cao học và Tiến sĩ giáo dục tại đại học Sƣ phạm Sài gòn. Năm 1972, chính quyền Sài Gòn đã thành lập hội đồng cải tổ thi cử ở miền Nam; hội đồng này đã phân tích những nhƣợc điểm của kì thi Tú tài theo lối cũ ( Phương pháp tự luận) và quyết định chuẩn bị cho một kì thi Tú tài cải tiến bằng trắc nghiệm khách quan( TNKQ) tiêu chuẩn hóa.