Chương I NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ VIỆT NAM - HOA KỲ TỪ KHI BÌNH THƯỜNG HÓA ĐẾN NAY T rước khi trình bày về thực trạng và những bước phát triển mạnh mẽ của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, chúng ta cần xem xét các nhân tố tác động quan trọng bên ngoài cũng như các nhân tố có tính chất quyết định nội tại đối với quan hệ hai nước. I- BỐI CẢNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC CHÂU Á - THÁI BÌNH DƯƠNG 1. Bối cảnh thế giới Với sự kết thúc của Chiến tranh lạnh và trật tự hai cực Yalta (1989 - 1991) cùng với sự tác động của các nhân tố khác, từ cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, thế giới đang từng bước quá độ từ trật tự thế giới cũ sang trật tự thế giới mới theo hướng đa cực, đa trung tâm và ngày càng định hình rõ nét hơn, trong đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều đặt ưu tiên cao cho 11 mục tiêu phát kinh tế nhằm gia tăng sức mạnh và nâng cao vị thế quốc gia. Kinh tế trở thành nhân tố quyết định trong sức mạnh tổng hợp của quốc gia và là động lực chính của xu thế khu vực hóa và toàn cầu hóa.
Các quốc gia cơ bản thực hiện chính sách đối ngoại theo hướng đa dạng hóa, đa phương hóa, thúc đẩy xu thế hợp tác khu vực, liên kết quốc tế. Do đó, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn luôn là xu hướng lớn trong quan hệ quốc tế. Nhìn chung, hầu hết các nước lớn, nhỏ trên thế giới đều đã điều chỉnh chính sách đối ngoại theo hướng tạo dựng môi trường bên ngoài thuận lợi để tham gia hiệu quả vào quá trình hợp tác, liên kết, hội nhập quốc tế. Chiều hướng tập hợp lực lượng có sự thay đổi, trong đó ý thức hệ không còn là chuẩn mực cao nhất mà được thay thế bằng lợi ích dân tộc; nguy cơ chiến tranh thế giới tiếp tục giảm đi dù vẫn tồn tại những xung đột, mâu thuẫn khu vực.
Bên cạnh đó, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin đang tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đem lại nhiều thành tựu mới. Nó làm thay đổi sâu sắc các yếu tố sản xuất, tác động sâu sắc đến kinh tế, chính trị, xã hội và quan hệ đối ngoại của các quốc gia, dân tộc trên thế giới và mở ra khả năng cho các nước đi sau, kém phát triển hơn có thể tận dụng những thành tựu đó để đi tắt, đón đầu phục vụ cho mục tiêu phát triển của quốc gia. Hơn nữa, quá trình toàn cầu hóa trở thành xu thế khách quan, ngày càng lôi kéo nhiều quốc gia, dân tộc tham gia. Trong điều kiện của toàn cầu hóa, lợi ích của các quốc gia đan xen với nhau và ngày càng phụ thuộc, tùy thuộc 12 lẫn nhau.
Trong bối cảnh sự hợp tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, khu vực ngày một lớn, không có lý do gì mà những quốc gia đi sau lại không nắm bắt thời cơ tiến hành hội nhập quốc tế sâu rộng, tận dụng thành quả của khoa học và công nghệ để vươn lên mạnh mẽ nhằm giảm bớt chênh lệch khoảng cách với các quốc gia phát triển. Và, cũng không có lý do gì mà các nước phát triển không tranh thủ thời cơ gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia thông qua việc “phổ biến”, “mở rộng” các giá trị của họ ra toàn thế giới. Bởi thế, toàn cầu hóa chính là một cuộc cạnh tranh quyết liệt, nghiệt ngã giữa các quốc gia và tất yếu những ai mạnh hơn vẫn có nhiều lợi thế hơn và những ai yếu hơn sẽ vẫn thiệt thòi hơn. Điều này đòi hỏi các nước, nhất là những nước nhỏ và vừa, trong đó có Việt Nam cần hội nhập quốc tế sâu rộng, chủ động và tích cực hơn để tận dụng cơ hội phát triển, hạn chế những thách thức, khắc phục yếu kém và không bị thua thiệt.
Ngoài ra, sự xuất hiện của một loạt vấn đề toàn cầu (ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, khủng hoảng tài chính, khủng bố quốc tế.) đã và đang đe dọa nghiêm trọng đến an ninh con người cũng như hòa bình, ổn định thế giới. Điều này đặt ra nhu cầu cần có sự tham gia hợp tác đa phương của nhiều quốc gia mới có thể giải quyết được. Vai trò của các thể chế đa phương toàn cầu và khu vực ngày càng cao. Hơn nữa, sau Chiến tranh lạnh, mặc dù xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển là xu thế lớn của nhân loại, nhưng môi trường an ninh quốc tế vẫn diễn biến phức 13 tạp, khó lường.
Sự đan xen giữa mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống, phạm vi và sự liên quan của các mối đe dọa cũng ngày càng rộng và khó tách biệt. Đến nay, nhiều điểm nóng an ninh truyền thống trên thế giới vẫn tồn tại, chưa có giải pháp hữu hiệu để giải quyết tận gốc. Trong khi đó, xung đột dân tộc - sắc tộc, tôn giáo, tranh chấp lãnh thổ và tranh chấp nguồn tài nguyên thiên nhiên, chủ nghĩa ly khai, cực đoan, nhất là chủ nghĩa khủng bố quốc tế. lại nổi lên ở nhiều nơi, đe dọa nghiêm trọng hòa bình và an ninh thế giới, đòi hỏi phải có sự hợp tác, liên kết giữa các quốc gia mới giải quyết được.
Cuối cùng, khi môi trường quốc tế thay đổi, các nước lớn đều điều chỉnh chính sách đối ngoại, nhất là sau sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001 - “tấn thảm kịch” tại Hoa Kỳ, các nước lớn đều điều chỉnh chính sách để duy trì, mở rộng ảnh hưởng, cạnh tranh lợi ích trên nhiều mặt. Quan hệ giữa các nước lớn rất đa dạng về cấp độ: đồng minh, đối tác chiến lược, đối tác xây dựng, đối thoại chiến lược, đối thủ trực tiếp, đối thủ tiềm tàng. và quan hệ giữa các nước lớn cũng luôn tồn tại tính hai mặt, đó là vừa hợp tác, vừa đấu tranh; vừa mâu thuẫn, vừa hòa giải; vừa tiếp xúc, vừa kiềm chế. Trong khi đó, một thực tế vẫn luôn tồn tại là: Để đảm bảo lợi ích của mình, nhìn chung, các nước lớn đều tránh đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ.
Các nước lớn đều gia tăng can dự, mở rộng ảnh hưởng đối với những khu vực có vị trí địa - chiến lược quan trọng, lôi kéo các quốc gia trong khu vực đó đi theo quỹ đạo của mình. Từ đây cho 14 thấy một đặc điểm rất nổi bật của bối cảnh quốc tế mới đó là sự duy trì hợp tác, gia tăng cạnh tranh cùng với quá trình tập hợp lực lượng của các nước lớn đang thúc đẩy xu thế đa cực hóa ngày càng mạnh mẽ và trọng tâm cạnh tranh chiến lược của các nước lớn đang dịch chuyển về châu Á - Thái Bình Dương. Như vậy, chiều hướng ưu tiên của xu thế hòa bình, hợp tác, phát triển trong bối cảnh cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão; xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa ngày càng mạnh mẽ; sự xuất hiện của một loạt các vấn đề toàn cầu và môi trường an ninh quốc tế có xu hướng diễn biến phức tạp hơn, cùng với đó là cuộc đấu tranh thiết lập trật tự thế giới mới, cuộc cạnh tranh mở rộng ảnh hưởng của các nước lớn. trở thành những nhân tố tác động nhất định đến sự phát triển của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ thời gian qua cũng như những năm tới1.
Bối cảnh khu vực châu Á - Thái Bình Dương Châu Á - Thái Bình Dương là khu vực phát triển năng động và ngày càng chiếm giữ vị trí địa - kinh tế, địa - ________________ 1. Xem thêm Trần Văn Đào, Phan Doãn Nam: Lịch sử quan hệ quốc tế (1945 - 1990), Học viện Quan hệ quốc tế, Hà Nội, 2000, tr.392-402; Nguyễn Quốc Hùng: Quan hệ quốc tế thế kỷ XX, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2000, tr.96-105; Hoàng Văn Hiển (Chủ biên), Nguyễn Viết Thảo: Lịch sử quan hệ quốc tế (1945 - 1995), Sđd, tr. 15 chính trị quan trọng trong tính toán chiến lược của các nước lớn1.
Khu vực này tập trung phần lớn các tuyến giao thông quốc tế huyết mạch bao gồm cả đường biển, đường bộ, đường sắt và đường hàng không. Thái Bình Dương chính là cầu nối Đại Tây Dương và Ấn Độ Dương tới Vịnh Persic. Vị trí của khu vực này có thể sử dụng làm các căn cứ quân sự, các căn cứ quan sát theo dõi tàu ngầm qua lại, đặt các trạm rađa, thông tin, các trạm dừng chân và tiếp nhiên liệu cho tàu bè cũng như xây dựng các căn cứ để bảo vệ giao thông vận tải biển và làm các căn cứ xuất phát cho những cuộc tấn công trên bộ (như ở Trường Sa và Hoàng Sa). Không những thế, đây cũng là khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên, không chỉ về loại hình mà còn ở quy mô, trữ lượng.
Trong điều kiện tài nguyên thiên nhiên trên đất liền ngày càng cạn kiệt, thì đây chính là nguồn dự trữ quan trọng cho sự phát triển của các nước khu vực trong tương lai, là cơ sở cho sự hợp tác, liên kết của các nước có liên quan, đặc biệt giữa các nước lớn với các nước đang phát triển trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liệu phục vụ cho sự phát triển. Từ cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI đến nay, châu Á - Thái Bình Dương luôn là khu vực tăng trưởng nhanh nhất ________________ 1. Châu Á - Thái Bình Dương có hai thành tố hợp lại là châu Á và Thái Bình Dương. Cho đến nay, việc xác định khu vực này vẫn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu quốc tế, nhưng đa phần đều tán thành việc cho rằng thế kỷ XXI sẽ là “Thế kỷ của Thái Bình Dương”.
16 thế giới và sự phát triển năng động của khu vực thông qua hàng loạt các cơ chế hợp tác, liên kết trong khu vực với nhiều tầng nấc và mở rộng trên nhiều lĩnh vực từ kinh tế cho đến chính trị, an ninh. Có thể kể ra như Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) (1989), các cơ chế của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) như ASEAN+3 (1997), ASEAN+1, Cấp cao Đông Á (EAS) (2005), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM) (2006), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+) (2010). Rõ ràng, đặc điểm địa lý, quy mô kinh tế và tương lai phát triển không hạn chế là những nhân tố quyết định để khu vực châu Á - Thái Bình Dương dần thay thế khu vực châu Âu - Đại Tây Dương, trở thành trọng tâm địa - chính trị toàn cầu.