Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ 1. Vài nét tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề Xây dựng đội ngũ cán bộ là một vấn đề đƣợc rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Nhiều luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu vấn đề này: - Một số giải pháp nâng cao trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý trƣờng Trung học cơ sở huyện Thanh Trì, Thành phố Hà Nội - Đặng Văn Trƣờng, 1999. - Một số giải pháp phát triển đội ngũ cán bộ nữ ở Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – Vũ Thị Xuân Mai, 2000.
- Những biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên trƣờng Sỹ quan chỉ huy Kỹ thuật thông tin - Lê Đình Hùng, 2000 - Những giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ giảng viên trƣờng Văn hoá nghệ thuật Khánh Hoà - Nguyễn Thị Kiều Linh, 2000. - Các giải pháp chủ yếu phát triển đội ngũ giảng viên trƣờng Đại học sƣ phạm Vinh trong giai đoạn mới - Phạm Công Lý, 2001. - Các giải pháp xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ giảng viên trƣờng phổ thông vùng cao Việt Bắc trong giai đoạn mới - Nguyễn Trƣờng Sơn, 2002. - Những biện pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ giáo viên trƣờng Cao đẳng Kinh tế Vinh - La Ngọc Viện, 2002.
- Những giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên trƣờng Cao đẳng sƣ phạm Hoà Bình trong giai đoạn 2006 -2010 - Nguyễn Thị Lệ Hƣờng, 2006. Điều này cho thấy, để đáp ứng đƣợc nhu cầu phát triển chung của ngành giáo dục hiện nay thì vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ là một vấn đề vô cùng quan trọng. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu chỉ tập trung chủ yếu là 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý (phổ thông, đại học, chuyên nghiệp) và đội ngũ giảng viên còn đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng thì còn rất ít, đặc biệt là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng tại Viện Đại học Mở Hà Nội thì chƣa có đề tài nào nghiên cứu. Chính vì vậy, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tƣ tƣởng quý báu về vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ mà các đề tài đi trƣớc đã đề cập đến chúng tôi chọn đề tài: “ Những biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục đại học trong giai đoạn hiện nay” để nghiên cứu với mong mỏi tìm ra đƣợc những biện pháp hữu hiệu nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ quản lý các phòng, ban chức năng của Viện Đại học Mở Hà Nội ngày một tốt hơn.
Khái niệm về quản lý và quản lý giáo dục 1. Khái niệm về quản lý Có nhiều quan niệm về quản lý, theo những cách tiếp cận khác nhau. Quản lý là cai quản, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra theo góc độ tổ chức. Theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con ngƣời trong quá trình sản xuất - xã hội để đạt đƣợc mục đích đã định.
Khi con ngƣời bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ có không thể đạt đƣợc với tƣ cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lý xuất hiện nhƣ một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hƣớng tới những mục tiêu chung. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: Quản lý là biết chính xác điều mình muốn ngƣời khác làm và sau đó thấy đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Quản lý là những hoạt động cần thiết phải đƣợc thực hiện khi những con ngƣời kết hợp với nhau trong các nhóm, tổ chức nhằm đạt đƣợc những 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mục tiêu chung. Quản lý là quá trình cùng làm việc và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng nhƣ các nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích chung của một nhóm ngƣời, một tổ chức.
Quản lý là một nghệ thuật, qua đó đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hƣớng dẫn, chỉ huy hoạt động của những ngƣời khác… Theo C. Mác: “Bất cứ một lao động mang tính chất xã hội trực tiếp hay lao động cùng nhau, đƣợc thực hiện ở quy mô tƣơng đối lớn, đều cần đến mức độ nhiều hay ít sự quản lý, nhằm thiết lập sự phối hợp giữa những công việc cá nhân và thực hiện những chức năng chung, nảy sinh từ sự vận động của toàn thể sản xuất, khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của nó. Một ngƣời chơi vĩ cầm riêng lẻ tự điều khiển mình còn dàn nhạc thì cần ngƣời chỉ huy” [31]. Nhƣ vậy, đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức, điều khiển các hoạt động của con ngƣời theo những yêu cầu nhất định - đƣợc gọi là hoạt động quản lý.
Từ đó có thể nhận thấy lao động xã hội và quản lý không tách rời nhau, quản lý là hoạt động điều khiển lao động chung. Xã hội phát triển qua các phƣơng thức sản xuất thì trình độ tổ chức, điều hành tất yếu cũng đƣợc nâng lên, phát triển theo những đòi hỏi ngày càng cao hơn. Khi lao động xã hội đạt đến một trình độ và quy mô phát triển nhất định thì sự phân công công việc tất yếu sẽ dẫn đến việc tách quản lý thành một dạng hoạt động đặc biệt, sẽ hình thành một bộ phận lao động trực tiếp và một bộ phận chuyên hoạt động quản lý, tạo thành một mối quan hệ trong quản lý. Cùng với sự phát triển của xã hội loài ngƣời, quản lý đã trở thành một khoa học và ngày càng phát triển toàn diện.
Theo Harold Koontz (ngƣời Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt đƣợc mục đích 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trƣờng trong đó con ngƣời có thể đạt đƣợc mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tƣ cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”[28]. Quản lý là cách thức tốt nhất để đạt đƣợc mục tiêu chung.
Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trƣờng thuận lợi để hƣớng tới mục tiêu. Ở khía cạnh này, quản lý là một nghệ thuật. Đó là “bí quyết” làm việc với con ngƣời, bí quyết sắp xếp các nguồn lực của tổ chức, là sự sáng tạo khi đối phó với những tình huống khác nhau trong hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên, các bí quyết đó chỉ có thể đƣợc khám phá trên sự đúc kết kinh nghiệm thực tế.
Các nhà quản lý chỉ có thể thực hiện sứ mệnh của mình tốt hơn khi vận dụng những kinh nghiệm đã đƣợc đúc kết, khái quát hoá thành những nguyên tắc, phƣơng pháp và kỹ năng quản lý cần thiết. Đó chính là khoa học, khoa học quản lý. Vì thế, quản lý vừa là nghệ thuật nhƣng lại vừa là khoa học. Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý hay tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tƣợng) quản lý về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế v.
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phƣơng pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trƣờng và điều kiện cho sự phát triển của đối tƣợng”[ 25]. Theo Đặng Vũ Hoạt và Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hƣớng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định”[6]. Theo Nguyễn Bá Sơn: “Quản lý là sự tác động có hƣớng đích của chủ thể quản lý đến đối tƣợng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đổi trạng thái của đối tƣợng quản lý, đƣa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích của con ngƣời”[6]. Hoạt động quản lý có thể đƣợc miêu tả qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Mô hình về quản lý Công cụ quản lý Chủ thể quản Khách thể Mục tiêu lý quản lý quản lý Phƣơng pháp quản lý Ngƣời quản lý phải thực hiện 4 nhóm chức năng: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra.
- Chức năng kế hoạch hoá: Đƣa mọi hoạt động của nhà trƣờng vào công tác kế hoạch với mục tiêu cụ thể, biện pháp rõ ràng, xác định cụ thể các điều kiện để thực hiện mục tiêu. - Chức năng tổ chức: Hình thành và phát triển tổ chức tƣơng xứng với nhiệm vụ, mục tiêu dài hạn hoặc ngắn hạn. - Chức năng chỉ đạo: Chỉ dẫn, động viên, thúc đẩy, giám sát, điều chỉnh và phối hợp các lực lƣợng trong Nhà trƣờng tích cực hăng hái và chủ động làm việc theo sự phân công và kế hoạch đã định. - Chức năng kiểm tra: Kiểm tra, xem xét tình hình thực hiện công việc đối chiếu với yêu cầu để có sự đánh giá đúng.
Kiểm tra thực chất là quá trình 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiết lập mối liên hệ nghịch trong quản lý giúp chủ thể quản lý điều khiển tối ƣu hệ thống quản lý của mình. Ngoài 4 chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lý còn có một chức năng quan trọng là: thông tin quản lý. Thông tin quản lý là nguồn lực của tổ chức, là căn cứ để ra các quyết định quản lý, là yếu tố quan trọng đảm bảo cho kết quả của quyết định quản lý… Thông tin là yếu tố cơ bản và đầu tiên để thực hiện các chức năng quản lý. Vì vậy, trong các chức năng quản lý, thông tin là chức năng trung tâm.
Các chức năng quản lý có quan hệ mật thiết với nhau và tạo thành chu trình quản lý. Chu trình quản lý có thể đƣợc mô tả nhƣ sơ đồ 2.2: Quá trình quản lý Lập kế hoạch Thông tin quản lý Kiểm tra Tổ chức Chỉ đạo 1. Khái niệm về biện pháp Theo từ điển tiếng Việt [14]: Biện pháp là cách hành động, lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích.