CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG 1. Khái niệm, phân loại và vai trò của môi trường 1. Môi trường được hiểu khác nhau theo các cách tiếp cận khác nhau. Về mặt xã hội học, môi trường được hiểu rất rộng, bao gồm hầu hết các yếu tố được xác địnhcó sự tồn tại xung quanh con người như chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, xã hội …Về sinh học, có quan niệm môi trường bên ngoài và môi trường bên trong tế bào.
Khái niệm về môi trường được thảo luận từ rất lâu, dưới đây là một số khái niệm điển hình. Bách khoa toàn thư 1994: “Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội – nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ” Trong Tuyên ngôn của UNESCO năm 1981, môi trường đối với con người được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình và vô hình (tập quán, niềm tin.) trong đó con người sống và lao động, khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình". Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật là con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự nghỉ ngơi của con người”. Để thống nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng khái niệm trong Luật BVMT 2014 như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật” [14].
Liên quan đến khái niệm môi trường còn có khái niệm hệ sinh thái. Đó là hệ thống các quần thể sinh vật cùng sống và phát triển trong một môi trường nhất định, có quan hệ tương tác với nhau và với môi trường đó. Khi nghiên cứu môi trường, chúng ta thường sử dụng khái niệm đa dạng 6 sinh học; đó là sự phong phú về nguồn gen, về giống, loài sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Ô nhiễm môi trường: Theo Luật BVMT năm 2014 “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [14] Trên thế giới, ONMT được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường.
Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (CTR) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ. Phân loại môi trường Tuỳ theo đối tượng và mục đích nghiên cứu cụ thể mà có thể nêu ra một số cách phân loại môi trường theo các dấu hiệu đặc trưng như sau [2][6]: - Theo nguồn gốc, môi trường có thể được chia thành: Môi trường tự nhiên (sông, biển, đất …); Môi trường nhân tạo (môi trường đô thị, trường học, công sở…) - Theo theo thành phần, môi trường có thể được chia thành: Môi trường không khí; Môi trường đất; Môi trường nước - Theo qui mô, môi trường có thể được chia thành: Môi trường quốc gia; Môi trường vùng; Môi trường địa phương. - Theo sự sống: môi trường vật lý (thành phần vô sinh của môi trường tự nhiên như thạch quyển, khí quyển, thủy quyển); môi trường sinh học (thành phần hữu sinh của môi trường, là nơi diễn ra sự sống) - Theo mục đích nghiên cứu sử dụng: Mục đích nghiên cứu sử dụng theo nghĩa rộng, môi trường bao gồm tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sống, sản xuất của con người như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, các quan hệ xã hội … tức là gắn liền việc sử 7 dụng tài nguyên với chất lượng môi trường. Mục đích nghiên cứu sử dụng theo nghĩa hẹp, môi trường thường chỉ xét tới những nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người.
Như vậy, dựa trên các cách phân loại trên, có thể phân chia môi trường thành 3 loại dựa theo chức năng hoạt động của nó, bao gồm: - Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên tồn tại khách quan bao quanh con người như: đất đai, không khí, nước, động thực vật. Môi trường tự nhiên cung cấp các nguồn tài nguyên thiên nhiên cho quá trình sản xuất nhằm tạo ra của cải, vật chất cho xã hội và tiếp nhận, đồng hoá các loại chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu thụ. - Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người trong những hoạt động sống, trong xã hội liên quan đến các dân tộc khác, tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự phát triển của các cá nhân hoặc từng cộng đồng dân cư. Đó là các luật lệ, thể chế, cam kết, qui định nhằm hướng con người tuân theo một khuôn khổ nhất định tạo ra sự phát triển của xã hội và làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
- Môi trường nhân tạo: là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người như nhà ở, môi trường đô thị, môi trường, môi trường nông thôn, công viên, trường học, khu giải trí. Đặc điểm của môi trường: 1. Các thành phần môi trường: Thành phần môi trường hết sức phức tạp, trong môi trường chứa đựng vô số các yếu tố hữu sinh, vô sinh, vì vậy khó mà diễn đạt hết các thành phần môi trường. Ở tầm vĩ mô để xét thì thành phần môi trường có thể chia ra 5 quyển gồm: Khí quyển, Thạch quyển, Thủy quyển, Sinh quyền và Trí quyển.
Bản chất hệ thống của môi trường: Các định nghĩa môi trường nêu trên, tuy có khác nhau về quy mô, giới hạn, thành phần môi trường … nhưng đều thống nhất ở bản chất hệ thống của môi trường và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên. Do vậy, môi trường 8 mang đầy đủ những đặc trưng của hệ thống, gồm: - Tính cấu trúc phức tạp: Hệ thống môi trường bao gồm nhiều phần tử hợp thành. Các phần tử đó có bản chất khác nhau (tự nhiên, kinh tế, dân cư, xã hội) và bị chi phối bởi các quy luật khác nhau, đôi khi đối lập nhau, thường xuyên tác động lẫn nhau, quy định và phụ thuộc lẫn nhau (thông qua trao đổi vật chất, năng lượng, thông tin) làm cho hệ thống tồn tại, hoạt động và phát triển. - Tính động: các thành phần môi trường không khi nào tồn tại ở trạng thái tĩnh mà luôn luôn trong quá trình chuyển hóa tự nhiên và đưa đến trạng thái cân bằng động.
Chính sự cân bằng này đảm bảo cho sự sống của Trái đất được phát triển ổn định (như khả năng tự làm sạch của môi trường nước) [1]. - Tính mở: Hệ môi trường rất nhạy cảm với những thay đổi từ bên ngoài, điều này lý giải vì sao các vấn đề môi trường mang tính vùng, tính toàn cầu, tính lâu dài và nó chỉ được giải quyết bằng nỗ lực của toàn thể cộng đồng, bằng sự hợp tác giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới. - Khả năng tự tổ chức và điều chỉnh: Đặc tính cơ bản này của hệ môi trường quy định tính chất, mức độ, phạm vi can thiệp của con người, đồng thời mở hướng giải quyết căn bản, lâu dài cho các vấn đề môi trường cấp bách hiện nay. Vai trò, ý nghĩa của môi trường 1.
Môi trường là không gian sống của con người, các loài sinh vật: Mỗi một con người đều có yêu cầu về lượng không gian cần thiết cho hoạt động sống như: diện tích đất ở, không khí để thở. Loài người tồn tại trên Trái đất không chỉ đòi hỏi ở môi trường về phạm vi không gian sống mà cả về chất lượng của không gian sống đó. Chất lượng không gian sống phải đảm bảo được các yêu cầu bền vững về sinh thái - kinh tế - môi trường, thể hiện ở môi trường sạch sẽ, trong lành, không chứa các chất cặn bẩn, độc hại đối với sức khoẻ của con người. Môi trường cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người Hoạt động sản xuất là một quá trình bắt đầu từ việc sử dụng nguyên, 9 nhiên liệu, vật tư, thiết bị máy móc, đất đai, cơ sở vật chất kỹ thuật khác, sức lao động của con người để tạo ra sản phẩm hàng hóa.
Có những nguồn tài nguyên có thể sử dụng trực tiếp (thuỷ, hải sản.), có dạng phải tác động thì mới sản xuất được của cải vật chất phục vụ đời sống con người (đất đai, khoáng sản. Các hoạt động sống cũng vậy, con người ta cũng cần có không khí để thở, cần có nhà để ở, cần có phương tiện để đi lại, cần có chỗ vui chơi giải trí, học tập nâng cao hiểu biết. Những dạng vật chất trên chính là các yếu tố môi trường. Như vậy chính các yếu tố môi trường (kể cả sức lao động) là “đầu vào” của quá trình sản xuất và các hoạt động sống của con người.
Tuy nhiên, cũng phải nói rằng môi trường tự nhiên cũng có thể là nơi gây ra nhiều thảm họa cho con người (thiên tai), và các thảm họa này sẽ tăng lên nếu con người gia tăng các hoạt động mang tính tàn phá môi trường, gây mất cân bằng tự nhiên. Môi trường là nơi chứa đựng các chất thải do con người tạo ra Bên cạnh vai trò “đầu vào”, môi trường tự nhiên cũng lại là nơi chứa đựng “đầu ra” các chất thải của quá trình hoạt động sản xuất và đời sống. Các hoạt động đó thải ra môi trường các chất thải như khí thải, nước thải, CTR…. Trong các chất thải này có thể có rất nhiều chất độc hại làm ô nhiễm, suy thoái hoặc gây ra các sự cố về môi trường.
Trong quá trình sinh hoạt, tiêu dùng con người cũng thải ra môi trường rất nhiều loại chất thải. Những chất thải này nếu không được xử lý tốt sẽ gây ONMT nghiêm trọng. Vấn đề ở đây là phải làm thế nào để hạn chế sự phát thải chất thải, đặc biệt là các chất thải gây ô nhiễm, có tác động tiêu cực đối với môi trường.