Chương 1 : Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tự học - Chương 2 : Thực trạng quản lý hoạt động tự học của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội - Chương 3 : Biện pháp quản lý tăng cƣờng hoạt động tự học của sinh viên Viện Đại học Mở Hà Nội CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Từ xưa việc học tập vẫn luôn được xem trọng. Đó chính là con đường quan trọng trong việc tu dưỡng, rèn luyện, ý chí, khả năng; là con đường lập thân, lập nghiệp.
Trên con đường học tập đó, bao giờ vấn đề tự học cũng được xem trọng. Tự học trong học tập là vô cùng cần thiết. Chính tự học mới giúp người học biến tri thức tiếp thu thành tri thức của chính bản thân mình. Tự học xây nền móng tri thức vững chắc, tạo sự liên kết hơp lý trong hệ thtống kiến thức, giúp việc tiếp tục học tập được thuận lợi, dễ dàng và kiến thức được phát triển bền vững theo chiều rộng lẫn chiều sâu.
Khổng Tử (551 - 479 trCN), nhà tư tưởng nổi tiếng và nhà sư phạm vĩ đại của Trung Quốc, về phương pháp giáo dục ông đã đề cao việc tự học, tự luyện, tu nhân, chú trọng phát huy mặt tích cực, sáng tạo, năng lực nội sinh. Khổng Tử thường chú ý việc dạy sát đối tượng, kết hợp học và hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn, chủ trương phát triển hứng thú, động cơ ý chí của người học. Đề cập đến vấn đề học tập, Khổng Tử xác định "Học nhi thời tập chí", việc học tập theo ông phải gắn liền với thực hành để thông suốt được những điều đã học. Ông đề cập và nhấn mạnh mối quan hệ tác động giữa việc học tập và tư duy trong học tập, cho đó là hai yếu tố ràng buộc không thể thiếu của một vấn đề: "Học nhi bất tư tắc vong, tư nhi bất học tắc đãi".
Ông cho rằng học mà không nghĩ thì mờ tối, nghĩ mà không học thì khó nhọc, mất công. Do vậy, với ông việc học tập và tự học là cần thiết và gắn bó mật thiết với nhau. Cho nên để đạt hiệu quả trong học tập, Khổng Tử khuyên người học cần chú ý đến thực hành, tự học, tự suy nghĩ và nghiên cứu. Vấn đề này trong luận ngữ đã có triển khai sâu sắc, cụ thể hơn và cũng đã phát triển thành tư tưởng quan niệm "Biết mà học, thích mà học, vui say mà học".
Các nhà giáo dục Phương Tây cũng đã nhấn mạnh về việc phát huy khả năng và hiệu quả học tập của người học từ ý thức tự giác học, thực hành suy luận, nghiên cứu, tìm tòi, khám phá. Từ những phần đã trình bày, chúng ta thấy tuy vẫn còn có một số khác biệt trong nhận định của các nhà giáo dục về vai trò và biện pháp thực hiện giáo dục nhưng tất cả đều có sự thống nhất trên quan niệm đánh giá cao về vai 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trò tự giác trong học tập của người học. Các ý kiến cũng xác định động lực của tự học được hình thành từ tình cảm, từ ý thức của người học. Nhà trường, gia đình, môi trường chung là những yếu tố có khả năng tác động để giúp cho nhu cầu này được hình thành, phát triển và nâng cao.
Nhà trường bao giờ cũng đóng vai trò khơi gợi, hình thành phát triển và nâng cao ý thức tự học. Do vậy, với các nhà giáo dục trước đây, xây dựng biện pháp hiệu quả trong quản lý giáo dục nhằm nâng cao hoạt động tự học cho người học là một việc làm quan trọng và cần thiết. Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, vấn đề học tập và rèn luyện. Có nhiều bài phát biểu, bài viết trong những thời điểm, hoàn cảnh lịch sử khác nhau nhưng bao giờ Bác cũng nhấn mạnh đến tác dụng và hiệu quả to lớn của việc học tập và rèn luyện.
Bác cho rằng học tập giúp con người tiến bộ, nâng cao phẩm chất, mở rộng hiểu biết, làm thay đổi hiệu quả lao động. Đặc biệt, Bác rất nhấn mạnh đến tác dụng của tự học. Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ nhất về công tác huấn luyện và học tập khai mạc ngày 6 tháng 5 năm 1950 Bác đã khuyên học viên " Không phải có thầy thì học, thầy không đến thì đùa. Phải biết tự động học tập".
Trong công tác huấn luyện cán bộ, Bác cũng nhắc nhở về cách học tập : “Lấy tự học làm cốt. Do thảo luận và chỉ đạo góp vào " [25, 226]. Như vậy, theo Bác việc tự học giữ vai trò rất quan trọng, có tác dụng quyết định cho kết quả học tập. Việc tự học phải xuất phát từ động lực thôi thúc của chính bản thân người học, nhưng vẫn cần sự hỗ trợ, tác động từ môi trường học tập, cần sự chỉ đạo hướng dẫn của nhà trường, của người thầy.
Các văn bản của Nghị quyết Trung ương II khoá VIII, Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ X, Luật Giáo dục trước đây và hiện nay cũng đã xác định rất rõ về vai trò quan trọng của việc tự học trong học sinh, sinh viên. Thông tư số 36/TT - GD ngày 8 tháng 11 năm 1980 của Bộ Giáo dục quy định chế độ đối với cán bộ ngành giáo dục đang làm công tác quản lý, chỉ đạo và nghiên cứu ở các cơ quan, trường học tham gia công tác đào tạo đã nêu: "Khuyến khích cán bộ có ý thức học tập nghiên cứu nâng cao trình độ chuyên môn, tiếp cận 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với kiến thức khoa học hiện đại của thế giới, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ hiểu được tình hình thực tế của công tác đào tạo, từ đó có những suy nghĩa biện pháp tốt hơn trong công tác quản lý, chỉ đạo và nghiên cứu". Những công trình nghiên cứu gần đây Trong những năm gần đây, có nhiều công trình nghiên cứu về tự học của các học giả, các nhà nghiên cứu giáo dục như Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Tạ Quang Bửu, Nguyễn Cảnh Toàn, Phan Trọng Luận, Nguyễn Ngọc Bảo, Thái Duy Tuyên, Hà Thị Đức,… Những công trình nghiên cứu này đều xác nhận vai trò thiết yếu của tự học trong quá trình học tập và rèn luyện để hội nhập. Những công trình nghiên cứu này cũng đã đề cập đến những biện pháp hiệu quả trong vấn đề quản lý và đầu tư nâng cao chất lượng tự học, xác định những yêu cầu cơ bản để tiến hành và thực hiện việc tự học.
Đặc biệt, các công trình nghiên cứu đều quan tâm đến những yêu cầu đổi mới phương pháp dạy và học, cải tiến khung chương trình đối với nội dung phù hợp, điều chỉnh hợp lý giữa thời gian và tự học, bổ sung, trang bị phương tiện học tập hiệu quả. Một trong những cải tiến quan trọng đó vẫn nhằm vào việc tạo ra hiệu quả tự học bằng việc nhà trường tạo nên những kích thích huấn luyện tinh thần, thái độ và quyết tâm tự học cho người học. Các đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ trong những năm gần đây thuộc ngành quản lý giáo dục cũng đã đề cập đến vấn đề tự học, tự nghiên cứu của học sinh, sinh viên trong từng hoàn cảnh nhà trường cụ thể, của từng môi trường đào tạo ngành nghề chuyên biệt. Những luận văn này đã đóng góp trong các công tác quản lý của nhà trường với hoạt động tự học nói riêng và của giáo dục nói chung.
Những vấn đề lý luận về sinh viên 1. Khái niệm “Sinh viên” Thuật ngữ "Sinh viên" có nguồn gốc từ tiếng La tinh "students" có nghĩa là người làm việc học tập nhiệt tình, hăng say, người tìm kiếm khám phá kho tàng tri thức của nhân loại. Nó được dùng cùng nghĩa với từ "student" 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của tiếng Anh để chỉ những người đang theo học ở bậc đại học, cao đẳng và để phân biệt với học sinh các trường phổ thông. Khái niệm sinh viên được dùng rộng rãi với nghĩa: Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt gồm những người đang trong quá trình chuẩn bị tri thức, nghề nghiệp, để trở thành các chuyên gia hoạt động, lao động trong một lĩnh vực nhất định thuộc các ngành kinh tế, văn hoá, xã hội [14,20] X.L Rubinstein quan niệm: "Sinh viên là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt được đào tạo trong các trường Đại học, Cao đẳng để chuẩn bị cho hoạt động lao động và sản xuất vật chất cho xã hội.
Nhóm sinh viên rất cơ động tổ chức theo một mục đích xã hội nhất định nhằm chuẩn bị thực hiện vai trò xã hội với trình độ nghề nghiệp cao trong các lĩnh vực xã hội. Sinh viên là nguồn lực bổ xung cho đội ngũ tri thức được đào tạo trở thành những người lao động có tay nghề cao, tham gia hoạt động xã hội tích cực" [29,90]. Từ khái niệm trên, ta có thể hiểu: Sinh viên Việt Nam là những người đang học tập tại các trường Đại học, Cao đẳng trong và ngoài nước nhằm đáp ứng nguồn lao động có tri thức, có tay nghề cao đáp ứng nguồn nhân lực cho công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Sinh viên Việt Nam có những đặc điểm sau: - Là những người đã tốt nghiệp PTTH hoặc bổ túc văn hoá hoặc THCN có lứa tuổi từ 18 - 23 được trang bị đầy đủ hệ thống những tri thức khoa học phổ thông cơ bản hiện đại.
- Đây là lớp người có sức khoẻ, nhạy bén, năng động, tiếp thu nhanh, nhận thức của họ rất phát triển, biết kế thừa và phát huy truyền thống văn hoá của dân tộc và của nhân loại. - Có xu hướng tích cực hoá xã hội, có tính tự lập, độc lập và tự giác cao, có nhu cầu tự khẳng định, tự đánh giá toàn diện về bản thân mình. - Đối với xã hội đây là nhóm người được quan tâm đặc biệt vì họ là thế hệ tương lai của đất nước, là thế hệ cách mạng cho đời sau. Đặc điểm tâm lý thanh niên - sinh viên 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt đang trong quá trình chuẩn bị tích luỹ tri thức nghề nghiệp để trở thành các chuyên gia giỏi hay những người lao động có tay nghề cao đáp ứng nguồn nhân lực có trí tuệ phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Nhóm xã hội này thuộc lứa tuổi từ 18 - 23 tuổi.