CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC NHẰM HẠN CHẾ HIỆN TƯỢNG CHUYỂN GIÁ CỦA DOANH NGHIỆP FDI 1. Khái quát doanh nghiệp và doanh nghiệp FDI 1. Khái quát về doanh nghiệp 1. Khái niệm Doanh nghiệp là thuật ngữ khá phổ biến khi ở Việt Nam xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Xét theo phương diện lý thuyết thì có khá nhiều quan điểm khác nhau khi định nghĩa về cụm từ doanh nghiệp. Xét theo quan điểm Pháp Luật, căn cứ vào quy định tại khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định: Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Xét theo quan điểm chức năng, doanh nghiệp là đơn vị tổ chức sản xuất mà ở đó con người kết hợp các yếu tố sản xuất khác nhau do toàn bộ nhân viên công ty thực hiện để bán sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ ra thị trường. Hoạt động bán hàng hóa này sẽ nhận được một khoản tiền chênh lệch giữa giá thành của sản phẩm với giá bán của sản phẩm để thu lợi nhuận.
Xét theo quan điểm phát triển, doanh nghiệp là một cộng đồng người sản xuất ra của cải. Cộng đồng này có sinh ra, phát triển, có thể gặp thành công và cả những thất bại, có lúc gặp phải thời kỳ nguy kịch, thậm chí bị tiêu vong hoặc phải ngừng sản xuất khi gặp phải các khó khăn không vượt qua được. Xét theo quan điểm hệ thống, doanh nghiệp là một tập hợp những bộ phận khác nhau được cấu thành, tổ chức, có tác động qua lại với nhau và đều hướng tới một mục tiêu là thu lợi nhuận. Trong đó, những bộ phận của một doanh nghiệp bao gồm bốn bộ phận là bộ phận sản xuất, bộ phận thương mại, bộ phận tổ chức và bộ phận nhân sự.
Tất cả các bộ phận đều có ý nghĩa và vai trò quan trọng đối với sự tồn tại của doanh nghiệp. 3 Mỗi một định nghĩa đều sở hữu một nội dung nhất định với một giá trị nhất định khi đứng ở nhiều quan điểm khác nhau. Hiện nay, các doanh nghiệp trên thị trường đa số đều thực hiện quá trình sản xuất và kinh doanh, cung cấp các dịch vụ thế mạnh để sinh lời. Đặc điểm chung của doanh nghiệp Thứ nhất, doanh nghiệp có tính hợp pháp.
Tính hợp pháp ở đây thể hiện thông qua việc doanh nghiệp muốn thành lập công ty phải nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký và nhận được giấy phép đăng ký thành lập. Khi nhận được giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được nhà nước công nhận sự tồn tại và trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cho các hoạt động bằng chính tài sản riêng của mình. Thứ hai, doanh nghiệp khi hoạt động đều có hoạt động kinh doanh phần lớn đều hướng đến lợi nhuận hoặc thực hiện cung ứng dịch vụ thường xuyên và lâu dài. Và đa số các doanh nghiệp khi thành lập đều hướng đến mục đích sinh lời tạo lợi nhuận qua việc mua bán, sản xuất, kinh doanh hàng hóa hoặc cung ứng để phục vụ người tiêu dùng.
Bên cạnh đó, cũng có một số doanh nghiệp xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng đến yếu tố vì cộng đồng, vì xã hội và môi trường như các doanh nghiệp về điện, nước, vệ sinh. Thứ ba, doanh nghiệp hoạt động có tính tổ chức. Tính tổ chức thể hiện qua cơ bộ máy tổ chức điều hành, cơ cấu nhân sự rõ ràng. Đồng thời doanh nghiệp thành lập luôn có trụ sở giao dịch, đăng ký theo quy định và có tài sản riêng để quản lý kèm theo tư cách pháp nhân trừ loại hình doanh nghiệp tư nhân.
Doanh nghiệp là một yếu tố không thể thiếu cho việc phát triển kinh tế – xã hội. Cung cấp các sản phẩm, dịch vụ cho người dân với mức giá phù hợp nhất, giúp giải quyết nhu cầu việc làm cho xã hội. Tạo sự cạnh tranh để giúp đưa chất lượng sản phẩm, dịch vụ ngày càng tốt hơn và giúp giảm giá thành. Tạo ra được nhiều sản phẩm mới, tốt giúp đáp ứng cuộc sống của xã hội.
Doanh nghiệp phải đóng thuế, giúp bổ sung nguồn thu cho nhà nước. Khái quát về doanh nghiệp FDI 1. Khái niệm về vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Đầu tư nước ngoài phần lớn được coi là chất xúc tác cho tăng trưởng kinh tế trong tương lai. Đầu tư nước ngoài có thể được thực hiện bởi các cá nhân, nhưng thường là nỗ lực của các công ty và tập đoàn có tài sản đáng kể đang tìm cách mở rộng phạm vi hoạt động.
Vốn đầu tư nước ngoài bao gồm: Vốn đầu tư gián tiếp, Vốn đầu tư trực tiếp (FDI), các khoản vay thương mại. Trong đó nguồn vốn FDI luôn được quan tâm nhất trong mọi thời kỳ. Theo tổ chức kinh tế thế giới WTO: Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư và tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản (ở nước ngoài) được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”. Khái niệm của IMF: FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một nền kinh tế khác nên kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. Khái niệm của OECD: Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng một trong các cách sau: Thành lập hay mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư, mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có, tham gia vào một doanh nghiệp mới, cấp tín dụng từ 5 năm trở lên.
Các quan điểm về FDI được đưa ra tùy góc độ nhìn nhận của các nhà kinh tế nên rất phong phú và đa dạng. Qua đó có thể rút ra khái niệm chung như sau: FDI là một loại hình thức đầu tư trong đó chủ đầu đầu tư toàn bộ hay phần đủ lớn số vốn 5 đầu tư của một dự án ở nước khác qua đó giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát dự án đầu tư đó. Khái niệm về doanh nghiệp FDI Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD): doanh nghiệp FDI là doanh nghiệp trong đó nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết. Điểm mấu chốt của đầu tư trực tiếp nước ngoài là nhà đầu tư chủ đích thực hiện quyền kiểm soát công ty.
Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO): Doanh nghiệp FDI là những doanh nghiệp mà nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sở hữu cổ phiếu thường hoặc biểu quyết cho phép tham gia có hiệu quả vào việc quản lí hoặc kiểm soát doanh nghiệp. Căn cứ theo Khoản 17 Điều 3 Luật Đầu tư 2020 có định nghĩa một cách khái quát: “Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là các thành viên hoặc các cổ đông”. Như vậy, một doanh nghiệp FDI là các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, không phân biệt tỷ lệ vốn góp của bên nước ngoài góp là bao nhiêu. Tổng hợp các khái niệm trên, có thể hiểu: Một doanh nghiệp được gọi là doanh nghiệp FDI nếu nó có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong đó, chủ đầu tư là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư và phải sở hữu ít nhất 10% cổ phiếu thường hoặc có quyền biểu quyết.
Vai trò của doanh nghiệp FDI - Bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển Nhu cầu về vốn để đầu tư phát triển kinh tế của các nước đang và chậm phát triển là rất lớn nhằm rút ngắn khoảng cách này với các nước công nghiệp phát triển. Trong các nguồn vốn nước ngoài thì vốn FDI được coi là quan trọng, nó bổ sung thêm nguồn vốn cho quốc gia, giúp các quốc gia giải được bài toán thiếu vốn. Khi có luồng vốn đầu tư nước ngoài vào sẽ tạo ra một thị trường vốn quốc tế mà tại đó các quốc gia có thể thu hút và huy động vốn một cách dễ dàng và hiệu quả. Không những thế, nguồn vốn nước ngoài còn đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xuất khẩu, 6 giao lưu, trao đổi hàng hoá, tạo điều kiện cho việc mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới.
Hoạt động của các doanh nghiệp FDI nhằm thu được lợi ích kinh tế trong lâu dài nên nguồn vốn FDI chủ yếu tồn tại dưới hình thức công nghệ, đất đai, nhà xưởng. Vì vậy, mà nguồn vốn này có độ ổn định hơn so với những hình thức đầu tư nước ngoài khác như đầu tư chứng khoán của các công ty nước ngoài. Thêm vào đó FDI là nguồn vốn do các chủ đầu tư tự bỏ vốn ra, tự tiến hành hoạt động đầu tư, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình nên hiệu quả sử dụng nguồn vốn này thường cao hơn nguồn vốn khác và nó không để lại gánh nặng nợ nần cho nước chủ đầu tư như nguồn vốn ODA. Nguồn vốn FDI cũng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả các nguồn vốn trong nước.
Vốn trong dân được kích thích đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Do sức ép phải cạnh tranh với các doanh nghiệp FDI nên nhà nước phải tăng cường vốn đầu tư và quan tâm nhiều hơn để việc đầu tư có hiệu quả.