CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ NGOẠI HỐI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Khái quát chung về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm về ngoại hối và hoạt động ngoại hối Khái niệm về ngoại hối. Hầu hết trên thế giới các quốc gia và vùng lãnh thổ đều có đồng tiền riêng của quốc gia và khu vực, vì thế khi thực hiện các hoạt động thương mại, đầu tư hay các giao dịch xã hội có liên quan đến tiền tệ giữa các quốc gia sẽ dẫn tới nhu cầu chuyển đổi đồng tiền của nước này sang đồng tiền nước khác.
Người có nhu cầu về ngoại tệ sẽ bán bản tệ mua ngoại tệ và ngược lại người có khoản thu bằng ngoại tệ sẽ bán ngoại tệ để mua bản tệ. Trong pháp luật thực định, khái niệm về ngoại hối được thể hiện bằng cách liệt kê các tài sản được coi của ngoại hối đối với đời sống kinh tế - xã hội và thiết lập cơ chế quản lý, sử dụng chúng vào mục đích tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội chứ không chủ trương xây dựng định nghĩa hoàn chỉnh về ngoại hối và chỉ ra các đặc điểm của ngoại hối. Điều này dẫn tới hệ quả là không có sự giống nhau hoàn toàn trong hệ thống pháp luật của các nước về những tài sản nào là ngoại hối và mục đích quản lý nhà nước đối với mỗi loại ngoại hối. Mặt khác, việc định ra chế độ QLNH như thế nào còn phụ thuộc vào thái độ của Nhà nước đối với ngoại hối, chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá hối đoái của nước đó trong từng thời kỳ.
Ở Việt Nam, theo khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh Ngoại hối năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định ngoại hối bao gồm: (i) Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực. (ii) Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác; 8 (iii) Các loại giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác; (iv) Vàng thuộc dự trữ ngoại hối nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam; (v) Đồng tiền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế. Khái niệm hoạt động ngoại hối. Trong nền kinh tế hiện đại, mỗi quốc gia đều có nhu cầu sử dụng ngoại hối để nhập khẩu hàng hoá hay can thiệp vào thị trường hàng hoá, thị trường tiền tệ, điều hòa cán cân thanh toán quốc tế,.Do ảnh hưởng lớn của ngoại hối đối với đời sống kinh tế - xã hội nên Chính phủ ở mỗi quốc gia đều tìm cách chọn lựa cho mình những chính sách thích hợp trong việc QLNH và điều tiết hoạt động ngoại hối.
Xét từ góc độ khoa học pháp lý, hoạt động ngoại hối được hiểu là tổng hợp các hành vi pháp lý do các chủ thể khác nhau thực hiện trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tài sản được coi là ngoại hối. Các hành vi pháp lý này có thể có tính chất là hành vi dân sự hay hành vi thương mại, tuỳ thuộc vào việc người thực hiện chúng vì nhu cầu dân sự hay thương mại. Xét từ góc độ pháp luật thực định, hoạt động ngoại hối được quan niệm là “Hoạt động ngoại hối là hoạt động của người cư trú, người không cư trú trong giao dịch vãng lai, giao dịch vốn, sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối và các giao dịch khác liên quan đến ngoại hối” (khoản 8 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối 2005). Do ngoại hối và dịch vụ ngoại hối là những tài sản, hàng hoá, dịch vụ đặc biệt nên các hành vi pháp lý liên quan đến những hàng hoá, dịch vụ này thường được pháp luật quy định hết sức chặt chẽ.
Ví dụ: Công dân muốn chuyển ngoại tệ ra nước ngoài khi xuất cảnh, nếu số lượng ngoại tệ muốn chuyển ra nước ngoài nhiều hơn mức tối đa mà Chính phủ cho phép tại thời điểm xuất cảnh thì công dân đó bắt buộc phải xin giấy phép của Chính phủ (hoặc cơ quan đại diện cho Chính phủ) về việc mang ngoại tệ ra nước ngoài. Việc pháp luật 9 có những quy định chặt chẽ đối với hoạt động ngoại hối chính là nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường, ổn định của nền kinh tế và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan đến hoạt động ngoại hối. Khái niệm về đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài Khái niệm về đầu tư. Theo Viện ngôn ngữ học (2003) khái niệm rằng đầu tư là việc bỏ nhân lực, vật lực, tài lực vào công việc gì, trên cơ sở tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội.
Trong khoa học kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại, nhằm đem lại cho nền kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó (Trường Đại học kinh tế quốc dân, 2003). Đầu tư là nhân tố không thể thiếu để xây dựng và phát triển kinh tế, là “chìa khóa” của sự tăng trưởng kinh tế. Các nguồn lực được sử dụng để đầu tư có thể là tiền, tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, trí tuệ. Trong cơ chế thị trường, hoạt động đầu tư có thể do những chủ thể khác nhau (cá nhân, tổ chức) tiến hành và ngày càng phong phú, đa dạng cả về tính chất và mục đích.
Tuy vậy, mọi hoạt động đầu tư suy cho cùng đều mang lại những lợi ích xác định. Những lợi ích đạt được của đầu tư có thể là sự tăng thêm tài sản vật chất, tài sản trí tuệ hay nguồn nhân lực cho xã hội. Kết quả đầu tư không chỉ là lợi ích trực tiếp cho nhà đầu tư mà còn mang lại lợi ích cho nền kinh tế và toàn xã hội. Dưới góc độ pháp lý, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác.
Hoạt động đầu tư có thể có tính chất kinh doanh (thương mại) hoặc phi thương mại. Trong khoa học pháp lý cũng như thực xây dựng chính sách, pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là hoạt động đầu tư kinh doanh, Bùi Ngọc Cường (2008) cho rằng hoạt động đầu tư với bản chất là sự chi phí của cải vật chất nhằm mục đích làm tăng giá trị tài sản hay tìm kiếm lợi nhuận. Ở Việt Nam, trước khi ban hành Luật Đầu tư năm 2005, khái niệm đầu tư kinh doanh chưa được định nghĩa thống nhất trong các văn bản pháp luật. Luật đầu 10 tư năm 200, với phạm vi điều chỉnh là hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh, đã đưa ra định nghĩa “Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư” (khoản 1 Điều 3 Luật Đầu tư 2005).
Khác với Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đầu tư năm 2014 không đưa ra khái niệm về đầu tư nói chung mà chỉ đề cập đến đầu tư kinh doanh. Theo đó, “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” (khoản 5 Điều 3 Luật Đầu tư 2014). Tương tự như Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đầu tư năm 2020 cũng chỉ đề cập đến khái niệm về đầu tư kinh doanh nhưng phạm vi được mở rộng hơn. Theo đó, “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh” (khoản 8 Điều 3 Luật Đầu tư 2020).
Hoạt động kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm 2020 là “là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” (khoản 21 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020). Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một dạng của đầu tư nước ngoài (còn gọi là đầu tư quốc tế). Đây là hoạt động đầu tư mà các nguồn lực đầu tư được huy động từ các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc người của nước nhận đầu tư định cư ở nước ngoài đầu tư về nước.
Thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động đầu tư nước ngoài còn có sự phân biệt giữa đầu tư từ nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài. Theo Luật Đầu tư năm 2005, đầu tư từ nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư; Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư đưa vốn bằng tiền và các tài sản khác từ Việt Nam ra nước ngoài để tiến hành hoạt động đầu tư (khoản 12, 14 Điều 3 Luật Đầu tư 2005). Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham 11 gia quản lý, điều hành quá trình sử dụng các nguồn lực (vốn) đầu tư. Trong hoạt động đầu tư trực tiếp không có sự tách bạch quyền sở hữu và quyền quản lý của nhà đầu tư đối với vốn đầu tư.
Vốn đầu tư quốc tế có thể tồn tại dưới các dạng: tiền tệ, hiện vật hữu hình như tư liệu sản xuất, nhà xưởng., tài sản vô hình như: sức minh, sáng chế, nhắn hiệu., các phương tiện đầu tư khác như: có khiếu, tại phiếu Trên phạm vi toàn thế giới, vốn chu chuyển hàng ngày là rất lớn, rất đa dạng với nhiều phương thức và thông qua nhiều kênh giao dịch. Trong đó có các nguồn vốn đầu tư quốc tế chủ yếu như: Viện trợ phát triển chính thức ODA, Đầu tư gián tiếp nước ngoài FPI, Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI.