Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. - Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở các trường THPT huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. - Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục khắc phục tình trạng học sinh bỏ học ở các trường THPT huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG HỌC SINH BỎ HỌC 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Ở Việt Nam, có nhiều tác giả nghiên cứu về vấn quản lý khắc phục học sinh bỏ học, nghiên cứu về quan điểm lý luận chung gồm có: Đặng Thành Hưng; Đặng Vũ Hoạt; Nguyễn Sinh Huy; Trần Kiểm; Các tác giả đã đề cập đến bản chất của hiện tượng lưu ban bỏ học; các nhân tố tác động đến lực lượng bỏ học: xã hội, nhà trường, gia đình và bản thân học sinh; đề xuất các giải pháp trên bình diện quá trình giáo dục, quá trình dạy học, bình diện xã hội, bình diện nhân cách cá nhân học sinh. Các tác giả còn đề cập đến nguyên nhân khiến học sinh bỏ học là do chương trình và sách giáo khoa, do giáo viên gây ra. Từ đó các tác giả cho rằng: cần phải sửa tận gốc những sai lầm đó, có nghĩa là phải tạo ra một cấu trúc mục đích, nội dung chương trình, phương pháp mới, hợp lý hơn và phải áp dụng các biện pháp đồng bộ thì mới có thể khắc phục được tình trạng học kém - nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng học sinh bỏ học. Nguyễn Hữu Chuỳ, Vấn đề lưu ban, bỏ học xét từ bình diện tâm lý xã hội.
NCGD số 7/92; Võ Thị Minh Chí, Tâm lý học thần kinh và một số hướng giải quyết vấn đề học sinh kém. TTKHGD, số 43/94; Hoàng Ngọc Di, Những nguyên nhân của hiện tượng bỏ học, tạp chí khoa học giáo dục số 3, Hà Nội 1964; Đặng Thành Hưng, Lưu ban, bỏ học: bản chất, nguyên nhân và hướng ngăn ngừa khắc phục. NCGD số 7/92; Trần Kiểm, Trẻ em bỏ học và trách nhiệm của các bậc cha mẹ. TTKHGD số 43/94; Cách tiếp cận trong việc mô tả xác định nguyên nhân bỏ học.
Qua các đề tài nghiên cứu trên tôi nhận thấy các công trình đã đề cập sâu 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều về vấn đề lý luận liên quan đến tình trạng bỏ học như các đặc điểm tâm lý của học sinh yếu, kém, lưu ban; bản chất của tình trạng bỏ học, tác động, hậu quả của bỏ học đến chiến lược phát triển của nguồn nhân lực tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa khai thác sâu khía cạnh quản lý của ngành giáo dục, nhất là đối với trường THPT và vai trò vị trí trách nhiệm của nhà trường trong việc khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. Các giải pháp đề xuất còn chưa bao quát. Các khảo sát còn mang tính chủ quan, chưa có công cụ khảo sát phân tích khoa học, chưa phân tích đánh giá cụ thể theo vùng miền, chưa đi sâu đề cập cụ thể đến biện pháp khắc phục tình trạng học sinh bỏ học. Nghiên cứu quản lý quản lý hoạt động giáo dục khắc phục tình trạng học sinh bỏ học đang là cấp bách.
Để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện đặc biệt là khắc phục tình trạng học sinh bỏ học trước hết đòi hỏi chính hệ thống quản lý làm thế nào để tạo ra nội lực ở chính tổ chức mình cần có một hệ thống giải pháp nào để quản lý giáo dục có hiệu quả hơn, cùng với nguồn lực như hiện nay mà làm giáo dục tốt hơn. Đó là vấn đề đặt ra hết sức cấp thiết. Muốn khắc phục tình trạng bỏ học ở các trường THPT có hiệu quả cần phải quan tâm nghiên cứu, đánh giá thực trạng cũng như đề xuất một số biện pháp phù hợp, đồng bộ nhằm giảm tỷ lệ học sinh bỏ học góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Khái niệm Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ: quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội. Điều này làm xuất hiện nhu cầu về quản lý. Trải qua tiến trình lịch sử phát triển từ xã hội lạc hậu đến xã hội văn minh quản lý trở thành một hoạt động phổ biến, diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.
Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Mac đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều đều cần đến một sự chỉ đạo điều hành những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của các khí quan độc lập với nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Koontz thì lại khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức).
Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [18, tr. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [6, tr. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là hoạt động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [21, tr. Từ những quan niệm nêu trên chúng ta có thể hiểu: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (đối tượng quản lý) thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, nhằm đạt được mục đích của quản lý.
Như vậy, có thể thấy quản lý vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật, quản lý được coi là một nghề nhằm dẫn dắt trong một hoàn cảnh nhất định, một nhóm người, nhằm đạt được các mục tiêu phù hợp với mục đích của tổ chức. Do vậy mà người quản lý cần phải hội tụ đầy đủ các yếu tố về kiến thức, kĩ năng, nghiệp vụ quản lý, vừa như một nhà quân sự, vừa như một nhà tâm lí, một nhà sư phạm mẫu mực, một nghệ sĩ sân khấu, vừa phải có một trái tim “nóng”, vừa phải có một cái đầu “lạnh”. Quản lý ngày nay được coi là một trong năm yếu tố phát triển kinh tế xã hội: vốn, nguồn lực lao động, khoa học kỹ thuật, tài nguyên và quản lý. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong đó quản lý giữ vai trò quyết định sự thành công.
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ: “Tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước là công tác cấp bách, là điều kiện tất yếu để đảm bảo huy động lực lượng to lớn của quần chúng nhân dân để hoàn thành mọi nhiệm vụ chính trị do Đảng đề ra, đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân”. Chức năng quản lý Trong quản lý, chức năng quản lý là một phạm trù quan trọng, mang tính khách quan, có tính độc lập tương đối. Chức năng quản lý nẩy sinh và là kết quả của quá trình phân công lao động, là bộ phận tạo thành hoạt động quản lý tổng thể, được tách riêng, có tính chuyên môn hóa. Như vậy, có thể hiểu chức năng quản lý là nội dung của hoạt động quản lý mà chủ thể sử dụng một cách có ý thức để tác động đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đặt ra.
Chức năng quản lý bao gồm 4 chức năng đó là: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Chức năng kế hoạch: Là chức là chức năng khởi đầu. Kế hoạch là bản thiết kế, là tiền đề của mọi quá trình quản lý. Kế hoạch hoá có nghĩa là xác định mục đích, mục tiêu đối với tương lai của tổ chức và con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hoá: (a) xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng đối với tổ chức; (b) xác định và đảm bảo (có tính chắc chắn, có tính cam kết) về các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu này; (c) xác định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó. Chức năng tổ chức: là quá trình hình thành cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn lực và nhân lực. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chức năng chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức.
Chỉ đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Đồng thời phát hiện ra những sai sót để kịp thời sửa chữa, uốn nắn không làm thay đổi mục tiêu, hướng vận hành của hệ thống nhằm giữ vững mục tiêu chiến lược của kế hoạch đã đề ra. Tuy nhiên việc chỉ đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định đến hai chức năng kia. Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là chức năng của người quản lý nhằm đánh giá, phát hiện và điều chỉnh kịp thời giúp cho hệ quản lý vận hành tối ưu, đạt mục tiêu đề ra.
Kiểm tra là nhằm xác định kết quả thực hiện kế hoạch trên thực tế, phát hiện những sai lệch, đề ra biện pháp uốn nắn điều chỉnh kịp thời.