Chương 1 khái quát cơ sở lý luận về mô hình tổ chức học tập bao gồm các khái niệm tổ chức học tập, mô hình tổ chức học tập tại cơ sở giáo dục, các nguyên tắc xây dựng tổ chức học tập và các yếu tố tác động tới triển khai mô hình tô chức học tập. Ngoài ra, tác giá cũng bàn luận thêm về kinh nghiệm xây dựng tổ chức học tập tại các CSGDĐH trên thế giới và ở trong nước và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho. trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN nói riêng và các trường đại học của Việt Nam nói chung. Đây sẽ là cơ sở lý luận quan trong cho việc phân tích thực trạng xây dựng và triên khai mô hình TCHT tại Trường Đại học Ngoại ngữ - ĐHQGHN.
CHƯƠNG 2: Thực trạng về tổ chức học tập tại trường ĐH Ngoại ngữ - ĐHQG Hà Nội Trong chương này, luận văn đã đề cập đến lịch sử phát triển, sứ mệnh và tầm nhìn của trường ĐH Ngoại ngữ - ĐHQGHN. Thực trạng quá trình xây dựng mô hình TCHT tại Nhà trường cũng được mô tả chỉ tiết thông qua các số liệu thứ cấp và sơ cấp đề từ đó rút ra được những thành công và hạn chế trong công tác xây dựng mô hình TCHT tại Nhà trường trong những năm qua. CHƯƠNG 3: Đề xuất giải pháp triển khai tổ chức học tập tại ĐH Ngoại ngữ- ĐHQG Hà Nội Trén cơ sở phân tích đánh giá về quá trình xây dựng và triển khai mô hình TCHT tại Nhà trường, luận văn sẽ đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm giúp Nhà trường phát triển mô hình TCHT trong thời gian tới ở ba cấp độ: cấp độ cá nhân (cán bộ giảng viên), cắp độ tổ/nhóm (các khoa chuyên môn) và cấp độ tổ chức (Nhà trường). 10 CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE TO CHUC HQC TAP TAI CO SO GIAO DUC DAI HOC 1.1 Khái niệm định nghĩa có liên quan 1.1 Khái niệm về tổ chức học tập Theo nhiều nhà nghiên cứu khoa học, định nghĩa tổ chức học tập (TCHT) đã xuất hiện các đây vài thập kỉ trước, thậm chí là 100 năm.
Argyris va Schon là hai tác giả đầu tiên phát hiện và đề cập đến khái niệm TCHT vào năm 1978. Theo hai tác giả, việc học tập của tổ chức được thể hiện theo đường vòng đơn và kép. Tổ chức học tập theo Học vòng lặp đơn (single-learning loop) khi các cá nhân trong tổ chức đó phát hiện và sửa chữa sai sót mà không đánh giá các giá trị và tiêu chuẩn hiện hành của tô chức. Cấp độ học hỏi đầu tiên này huy động những thói quen cố hữu với những.
lập luận phòng vệ và việc học hỏi mang tính chất hạn chế và không hiệu quả. Ở một mức cao hơn, học vòng lặp kép (double-learning loop) diễn ra khi các cá nhân biết kiểm tra và đánh giá các biến chỉ phối môi trường bên trong và bên ngoài của tổ chức. đó trước khi đưa ra quyết định. Phương pháp học vòng lặp kép được cho là phương pháp hiệu quả hơn phương pháp Học vòng lặp đơn.
Theo quan điểm của hai tác giả này, họ khẳng định rằng việc học tập chỉ dừng lại ở cấp độ các cá nhân trong tô chức. chứ không bao gồm toàn bộ tô chức đó. Điều này không thê hiện đầy đủ đặc trưng đặc biệt của TCHT, bao gồm việc học xảy ra tại mọi cấp độ của tô chức và dựa vào sự tương tác giữa các thành viên trong tổ chức đó. Từ những năm 1980-1990, khái niệm TCHT được phổ biến rộng rãi và nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới học thuật thông qua cuốn sách “The Learning Organisation” của Peter Senge đăng trên tạp chí Sloan Management Review của Học.
viện công nghệ Massachusets (Mỹ). Peter Senge (1990, tr 3) định nghĩa TCHT là “nơi mà con người liên tục mở mang năng lực đề tạo ra những kết quả họ thực sự mong muốn, nơi những hình thái tư duy mới và bùng nỗ được nuôi dưỡng, nơi khát vọng tập thể được tự do thiết lập và nơi con người không ngừng học tập dé cùng nhau hiểu cái toàn thể." Theo đó, tác giả nhắn mạnh vai trò của cá nhân và tinh thần học hỏi lẫn nhân giữa các cá nhân trong một tổ chức để tạo nên môi trường học tập hiệu 1I quả. Peter Senge đã đã phát triển một số nguyên tắc quan trọng dé hướng dẫn việc xây dựng và triển khai mô hình TCHT hiệu quả trong tổ chức trong tác phẩm nổi tiếng của ông là "The Fifth Discipline: The Art and Practice of the Leaming Organization". Nam nguyên tắc này bao gồm sự phát triển tư duy hệ thống, làm chủ bản thân, mô hình tỉnh thần, chia sẻ tầm nhìn và học tập theo nhóm.
Cùng chung mối quan tâm về TCHT, Pedler và các ng sự (1992)đã định nghĩa TCHT là nơi tạo điều kiện cho tit cả thành viên trong tổ chức không ngừng học hỏi và cải thiện bản thân cũng như cải thiện cả tổ chức đó. Mô hình TCHT của Pedler và đồng nghiệp tập trung vào việc tích hợp quá trình học tập vào hoạt động hàng ngày của tổ chức. Điều này đồng nghĩa với việc học không chỉ là một hoạt động riêng lẻ, mà là một phần tự nhiên của công việc và quá trình làm việc. Bên cạnh đó mô hình này cũng khuyến khích tổ chức phát triển các cơ chế và quy trình đề tự động hóa quá trình học tập.
Điều này có nghĩa là tổ chức không chỉ chờ đợi việc đào tạo truyền thống mà còn tạo ra các cơ hội học hỏi liên tục thông qua công việc hàng ngày và việc chia sẻ kiến thức. Nghiên cứu về TCHT của giáo sư David Garvin (1993) của trường Đại học Harvard không tập trung vào yếu tố cá nhân trong tổ chức mà nhìn nhận TCHT dưới góc nhìn quản trị tri thức. Nhà khoa học nhận định TCHT là một tổ chức có kỹ năng sáng tạo, thu thập, và chuyên đổi thông tin, và có năng lực điều tiết hành vi của tổ chức tương thích những kiến thức và hiểu biết mới. Äô hình tổ chức học tập với 5 hoạt động cơ bản được hình thành dựa trên kết quả khảo sát 100 nhà quản lý cắp cao từ các lĩnh vực khác nhau.
Dựa trên kết quả nghiên cứu, ông đã hình thành mô hình TCHT với 5 hoạt động cơ bản: 1) Tạo ra môi trường học tập trong tổ chức; (2) Thu. thập thông tin; (3) Học hỏi từ kinh nghiệm; (4) Cung cắp cơ hội thử nghiệm và (5) Phát triển các nhà lãnh đạo học tập. Nghiên cứu của Marsick va Watkins (1990) về TCHT cho rằng phần lớn quá trình học hỏi và tìm hiểu kiến thức trong các tổ chức xảy ra một cách tự nhiên và thường bắt nguồn từ chính yêu cầu của công việc. Hai tác giả đã định nghĩa TCHT là tô chức biết nắm bắt, chia sẻ và phát triển tri thức đề thay đôi cách tổ chức phản ứng.
với các thách thức. Trọng tâm của khung lý thuyết này về TCHT là bảy nhân tố sau: 12 1) Tạo cơ hội học tập liên tục; 2) Thúc đây điều tra và đối thoại; 3) Khuyến khích hợp. tác và học tập theo nhóm; 4) Tạo ra các hệ thống đẻ nắm bắt kiến thức và chia sẻ việc học tập; 5) Trao quyền cho mọi người hướng tới một tầm nhìn chung; 6) Kết nối tổ chức với môi trường; 7) Lãnh đạo việc học tập trong tổ chức (Watkins và Marsick, 1993, 1996, 2003). Nếu các nghiên cứu trên mô tả TCHT qua các yếu tố bên trong tổ chức thì tác gid Marquardt (2002) đề cị đến TCHT từ góc độ môi trường ngoài tổ chức.
Marquardt 14 mét gido su vé phat trién nguén nhan luc toan cau tai Dai hoc George Washington déng thời là quản lý và điều hành kinh doanh dày dặn kinh nghiệm, ông không đưa ra một định nghĩa cụ thể về TCHT mà mô tả những đặc điểm mà mỗi tổ chức trong thế kỷ 21 cần có đề “lãnh đạo toàn cầu” như: “bộ não khủng, khả năng. học tập nhanh chóng., học nhanh hơn, thích nghỉ nhanh hơn với những thay đổi từ môi trường. Ông ví TCHT như “giống loài thích nghỉ với môi trường sống mới”, và khăng định đây là yếu tố đặc biệt cần thiết trong bồi cảnh xã hội có những chuyên biến không ngừng do tác động của toàn cầu hóa và những tiến bộ công nghệ. Năm 2004, từ góc nhìn văn hóa của tổ chức, Edgar H.
Schien đã quan sát và phân tích các yếu tố đặc trưng của tô chức học tập và đưa ra định nghĩa của mô hình này. Theo ông, TCHT là một hệ thống tự học liên tục, trong đó những người tham gia không chỉ học từ kinh nghiệm cá nhân mà còn học từ nhau. Schein nhắn mạnh ring tổ chức học tập không giới hạn trong việc học kiến thức hoặc kỹ năng cụ thể, mà còn bao gồm việc hiểu rõ hơn về giá trị, tôn trọng, và văn hóa tổ chức. Theo Schein, tô chức học tập không chỉ là một khía cạnh của quá trình quản lý hoặc đào tạo, mà nó nằm ở trái tìm của sự phát triển và thích nghi của một tô chức.
Điều này đòi hỏi sự cam kết từ cấp quản lý cao cấp và việc tạo ra môi trường khuyến khích sự tò mò, thách thức ý thức, và khả năng chia sẻ kiên thức và kinh nghiệm. Schein đánh giá cao vai trò của việc thúc đây việc học tập tô chức như một yếu quan trọng trong việc duy trì sự linh hoạt và thành công trong môi trường kinh doanh ngày nay. Trong một nghiên cứu gần đây, Theodore Rothwell trong năm 2015 đã đưa ra quan điểm rằng yếu tố quan trọng nhất trong việc xây dựng một tô chức học tập là môi trường học tập trong tổ chức đó. Để thực hiện môi trường này, mỗi người lãnh 13 đạo cần thê hiện cam kết về việc đầu tư tài chính và thời gian vào các hoạt động hoc tập tại tô chức.
Ngoài ra, họ cũng cần thể hiện tính cởi mở bằng cách chia sẻ và giải thích rõ ràng về những kết quả mà họ hy vọng đạt được thông qua các hoạt động học tập. Điều quan trọng khác là người lãnh đạo phải đóng vai trò truyền cảm hứng, tạo. động lực cho nhân viên thông qua việc xây dựng các chương trình khen thưởng và khuyến khích. Những chương trình này giúp nhân viên vượt qua những khó khăn cá.
nhân và tham gia tích cực vào các hoạt động học tập. Từ các lý thuyết nêu trên, lịch sử khái niệm vẻ tô chức học tập được tóm tắt như sau Bang 1.