Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGOẠI NGỮ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngay từ trong xã hội nguyên thuỷ – thời mà con người còn sống theo bầy đàn, đã phải đoàn kết nhau lại để có đủ sức mạnh đi tìm kiếm cái ăn, thức uống, chống chọi với thiên nhiên, thú dữ,… thì nhu cầu tổ chức quản lý một nhóm người, một đám đông người thành một tập thể thống nhất, hợp lực vì mục đích sinh sản chung đã manh nha như một tất yếu tự nhiên. Trải qua một tiến trình lịch sử bao nhiêu ngàn năm, lực lượng và sức sản xuất xã hội ngày càng không ngừng phát triển. Nhân loại đã bước qua các thời kỳ sản xuất – kinh tế như thời kỳ kinh tế nông nghiệp, thủ công, công nghiệp… và nay là thời kỳ “kinh tế tri thức”, kết hợp gối sang thời kỳ kinh tế “sinh học”, kinh tế “Nanô”,… Nền sản xuất kinh tế từ chỗ “khép kín” ở trong một nước, một khu vực lấy hàng hoá vật chất cụ thể làm cơ sở, thì nay chuyển sang nền “kinh tế mở”, mang tính chất toàn cầu với những dịch vụ, kỹ thuật, công nghệ hiện đại, năng suất, tốc độ cao,… thì vấn đề quản lý nói chung, quản lý các hoạt động ở các lĩnh vực, ngành nghề, chuyên môn nói riêng, lại trở thành nhu cầu bức bách mang tính qui luật và bất khả kháng.
Sự quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động, sản xuất là hoạt động khách quan nảy sinh khi cần thiết có sự nỗ lực của nhóm người, tập thể người nhằm thực hiện mục tiêu, kế hoạch diễn ra ở mọi tổ chức từ phạm vi nhỏ đến quy mô lớn, từ giản đơn đến phức tạp. Trình độ xã hội hoá càng cao, thì nhu cầu quản lí càng bức thiết. Từ xa xưa, đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu về quản lí. Ở phương Đông cổ đại, đặc biệt ở Trung Hoa, Ấn Độ đã xuất hiện những nhà tư tưởng về quản lí lỗi lạc như Khổng Tử (551- 479 TCN ), Mạnh Tử (372 -289 TCN) chủ trương dùng “Đức trị”, nhấn mạnh vai trò làm chủ của nhân dân và trách nhiệm phuc vụ dân của người cầm quyền.
Trong khi đó, Hàn Phi Tử (280 -233 TCN ), Thượng Ưởng lại quan tâm tới quyền lực, chủ trương dùng" Pháp trị” để quản lý xã hội. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở phương Tây cổ đại, Xôcrat (TK4 – 3 TCN) chủ trương phải biết cách sử dụng con người; Platon (426 – 347 TCN) chủ trương muốn cai trị dân thì phải vì dân. Đầu thế kỷ 16, Nhà giáo dục – văn hoá J.A Komenxki (1592 – 1670) với những tác phẩm “Khoa học sư phạm”, “Nhà trường mẫu giáo”,… đã chủ trương: Giáo dục cho mọi người, dạy chữ- dạy người, phương pháp mẫu giáo: Học mà chơi, chơi mà học. Thời kỳ phong kiến ở Việt nam, tư tưởng quản lý cũng xuất hiện từ lâu: thời Tiền Lê hướng vào “Pháp trị”, thời nhà Lý hướng vào “Đức trị”; thời hậu Lê kết hợp Đức trị và Pháp trị.
Chẳng hạn, Lý Công Uẩn nêu “Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, thấy thuận tiện thì thay đổi”. Trần Minh Tông cho rằng “Hết thảy sinh dân đều là đồng bào của ta, nỡ lòng nào để cho bốn bề khốn cùng”. Nguyễn Trãi nhấn mạnh “Chở thuyền là dân, mà lật thuyền cũng là dân”, hoặc “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Còn Lý Thường Kiệt thì khẳng định" Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân”… Từ giữa thế kỷ thứ 18 đến nay, cùng với sự phát triển của nền sản xuất công nghiệp, khoa học quản lý cũng phát triển, xuất hiện các học thuyết, các trường phái quản lý mới.
Chẳng hạn, Frederick Winslow Taylor (1856 – 1915) với thuyết quản lý khoa học; Henry Fayol (1841 – 1925) với thuyết quản lý hành chính; Mary Parker Follet ( 1868- 1933), Elton Mayor (1880- 1949) thiên về trường phái quản lý theo quan hệ con người; G.Watson (1878- 1958), Hugo Munsterberge (1683- 1916); Abraham Maslow (1908- 1970); Douglas Mc.Gregor (1906-1964) với thuyết quản lý theo hành vi. Về thuyết quản lý tổ chức phải kể đến Chester Irving Barnard (1886-1961). Về các thuyết văn hoá quản lý có thuyết X của William Ouchi, và đại biểu của trào lưu này còn phải kể đến Thomas J.Waterman,… Trên nền tảng khoa học quản lý chung, khoa học quản lý giáo dục ở thế giới và Việt Nam đã có những thành tựu đáng kể. Ở nước ngoài, từ thế kỷ 18 đã xuất hiện những công trình về thực tiễn hoạt động giáo dục của K.Raumer (1842, Đức), về cải cách giáo dục của R.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Từ giữa và cuối thế kỷ 19, nhiều tác giả đã đi sâu nghiên cứu những vấn đề cụ thể về giáo dục, trong đó đề cập tới quản lý giáo dục như K.Makarenco… Ở Việt Nam, từ đã lâu, một số tư tưởng, quan điểm về giáo dục đã được các sử gia đề cập tới trong các công trình nghiên cứu của mình như Ngô Sĩ Liên (TK 15), Lê Quý Đôn(TK18). Trong nửa đầu thế kỷ 19, Phan Huy Chú đã nghiên cứu chi tiết và có hệ thống về công việc điều hành, tổ chức thi cử trong giáo dục. Từ 1945, sau Cách mạng Tháng 8 thành công, nhiều nhà nghiên cứu và hoạt động sư phạm đã đề cập tới quản lý giáo dục, đặc biệt như Hồ Chủ Tịch trong “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục”, như Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại một hệ thống những bài viết, bài nói về giáo dục.
Tiếp theo đó, có những tổng kết lí luận và kinh nghiệm thực tiễn về phát triển, quản lý giáo dục theo một số giai đoạn như Nguyễn Văn Huyên với cuốn “Quá trình 16 năm xây dựng giáo dục – Hà nội, 1961”, Nguyễn Khánh Toàn với “20 năm xây dựng giáo dục – Hà nội, 1965”, Nguyễn Lân với “Lịch sử giáo dục thế giới –Hà nội, 1958”… Trưởng thành, lớn mạnh theo cùng sự phát triển kinh tế – xã hội, khoa học quản lý giáo dục Việt Nam dần dần hoàn thiện, tiếp cận với thế giới. Trong quá trình đó, đã xuất hiện nhiều nhà nghiên cứu quản lý giáo dục như Hà Thế Ngữ, Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Minh Hạc, Lê Sơn,… Vào cuối thế kỷ 20, bước sang đầu thế kỉ 21, xuất hiện những nhà nghiên cứu kết hợp thực tiễn giáo dục ở Việt nam với những yếu tố hiện đại như Đặng Quốc Bảo với “Về phạm trù nhà trường và nhiệm vụ phát triển nhà trường trong bối cảnh hiện nay”, " Quản lý giáo dục – nhiệm vụ và phương hướng”, NXB Đại học – Hà nội, 1996; Nguyễn Quang Uẩn chủ biên “Tâm lý học đại cương”, NXB Giáo dục, 1999; Nguyễn Văn Lê với" Khoa học quản lý” 1994; Trần Quốc Thành với “Bài giảng đại cương về quản lý giáo dục”… 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện nay, trong quá trình xây dựng và phát triển, khoa học quản lí giáo dục của ta đã có những cơ sở phương pháp luận. Đó là một” bộ tứ” gồm có: - Hệ thống các quan điểm, quy luật triết học Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử Mác-Lênin - Các quan điểm, đường lối, chính sách xây dựng, phát triển kinh tế- xã hội nói chung, phát triển sự nghiệp giáo dục nói riêng cả Đảng, Nhà nước, của Hồ Chủ Tịch. - Các tiếp cận xuất phát từ những lí thuyết và thực tiễn khoa học phù hợp với yêu cầu phát triển giáo dục và phát triển khoa học quản lý giáo dục.
- Các qui luật đặc thù của giáo dục, phản ánh những lĩnh vực hiện thực, cần thiết cho lí luận và hoạt động quản lý. Riêng về “các tiếp cận” trong quản lý giáo dục, chúng ta đã gặp các tiếp cận chủ yếu như: tiếp cận hệ thống, tiếp cận phức hợp, tiếp cận chức năng, tiếp cận điều khiển Xibecnetic, tiếp cận đồng bộ,… Gần đây, trong cơ chế kinh tế thị trường, người ta chú ý, quan tâm vận dụng thêm những tiến cận mới, hiện đại trong quản lí giáo dục: Tiếp cận quản lý chất lượng tổng thể, tiếp cận quản lý trên nền tảng nhà trường, tiếp cận quản lý Marketing trong giáo dục… Trong hướng đề tài nghiên cứu về quản lý dạy học trong nhà trường hiện nay, chủ yếu tập trung vào quản lý dạy cho trong trường phổ thông ( Ví dụ: Thực trạng và các biện pháp quản lý của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở trường THCS huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hoá/ Phạm Bá Phong ĐHSPHN, 1999 ), còn hướng quản lý dạy học ngoại ngữ trong trường không chuyên ngoại ngữ rất ít. Đây chính là lí do khiến tác giả chọn nghiên cứu đề tài này. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm về quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện cùng với xã hội loài người, được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội. Chính sự phân công 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và hợp tác lao động để có hiệu quả nhiều hơn, năng xuất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra và chỉnh lý…tức là phải có người đứng đầu- người quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật bởi quản lý nghiên cứu các luật lệ, các nguyên tắc và phải linh hoạt trước nhiều tình huống, phải đương đầu với cách ứng xử của con người: Thương lượng, thuyết phục, vận động sao cho đạt tới mục tiêu. Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, trong phạm vi nghiên cứu này, luận văn chỉ đề cập đến một số định nghĩa tiêu biểu, có liên quan đến hoạt động quản lý.
Mác viết : “Bất cứ lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn đều yêu cầu cần có một sự chỉ đạo để điều hoà sự hoạt động…Một nhạc sĩ độc tấu thì tự điều khiển lấy mình nhưng một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [1, tr.Taylor khẳng định: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đó hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [36, tr.Koontz thì lại khẳng định:" Quản lý là hoạt động thiết yếu bảo đảm sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức”.