Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo ở Trung cấp chuyên nghiệp Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đào tạo tại trường Trung cấp Bưu chính viễn thông và Công nghệ thông tin I Hà Nam. Chương 3: Biện pháp quản lý đào tạo tại trường Trung cấp Bưu chính viễn thông và Công nghệ thông tin I Hà Nam. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO Ở TRƢỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP 1. Sơ lƣợc về lịch sử nghiên cứu quản lý nâng cao chất lƣợng đào tạo Trong những năm qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề làm thế nào nâng cao chất lượng đào tạo.
Khoa học quản lý ở Việt Nam tuy còn non trẻ nhưng đã có những đề tài được nhiều người quan tâm, suy ngẫm, tổng kết và vận dụng. Nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý của các nhà nghiên cứu, các trung tâm, viện nghiên cứu và giảng viên đại học, các chuyên gia nghiên cứu dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, hội thảo .đã được công bố. Đó là tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Trần Khánh Đức, Vũ Ngọc Hải, Đặng Bá Lãm, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quốc Trí, Nguyễn Ngọc Quang, Trần Hữu Lạm,. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên đã góp phần giải quyết vấn đề lý luận cơ bản về khoa học quản lý như bản chất của hoạt động quản lý, đồng thời chỉ ra các phương pháp và nghệ thuật quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Đứng trước nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và nhu cầu phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đã đặt ra yêu cầu cấp thiết là phải đổi mới giáo dục để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho xã hội. Chính vì thế đã có rất nhiều luận văn thạc sỹ, tiến sỹ viết về biện pháp quản lý giáo dục đào tạo, quản lý nhà trường nhưng chưa đi sâu nghiên cứu công tác quản lý đào tạo của trường trung cấp chuyên nghiệp đặc biệt là hệ thống các trường trung cấp chuyên nghiệp của ngành Bưu chính viễn thông. Do đó tác giả đã lựa chọn đề tài : “ Biện pháp quản lý đào tạo Trường Trung cấp Bưu chính viễn thông và Công nghệ thông tin I tỉnh Hà Nam” để làm đề tài nghiên cứu của mình nhằm góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường, đào tạo được đội ngũ nhân lực có tay nghề trình độ đáp ứng yêu cầu phát triển mạng lưới Bưu chính - Viễn thông – Công nghệ thông tin của đất nước. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm Quản lý là một hoạt động mang tính lịch sử xã hội, nhờ có hoạt động quản lý mà xã hội loài người không ngừng vận động và phát triển. Taylor xuất bản cuốn sách: “Những nguyên tắc khoa học quản lý” đã đánh dấu sự phát triển của khoa học quản lý. Quản lý có vai trò rất quan trọng đối với sự quyết định thành bại của bất kỳ một tổ chức nào.
Tất cả các thành viên trong một tổ chức (kể cả người quản lý và người bị quản lý) muốn đạt được mục tiêu cần phải thông qua sự vận dụng các yếu tố quản lý. Có rất nhiều học giả trong và ngoài nước đã đưa ra giải thích khác nhau về quản lý: Theo FW. Taylor: “ Quản lí là biết chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. H Koontz khẳng định: “ Quản lí là hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt các mục đích của tổ chức”.
Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động cảu toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tực mình điều khiển lấy mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[2,tr 48]. Còn tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: “ Quản lí là sự tác động có mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước”. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến khách 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể quản lí trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[1,tr1].
Theo từ điển tiếng việt thông dụng (NXB Giáo dục,1998) thuật ngữ quản lí được định nghĩa: “Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan”. Từ những lý giải về quản lý của các tác giả trên ta có thể thấy khái niệm quản lí được hiểu là: Quản lý là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm nâng cao năng suất lao động và đạt được mục đích của tổ chức đề ra trong điều kiện biến động của môi trường. Các chức năng quản lý Chức năng quản lý là một quá trình chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Chức năng quản lý bao gồm 4 chức năng cơ bản sau: + Chức năng lập kế hoạch: Là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý, là cái khởi điểm của một chu trình quản lý.
Lập kế hoạch là quá trình xác lập mục tiêu, thời gian, biện pháp, dự báo trước kế hoạch và quyết định phương thức để thực hiện mục tiêu đó. Nói cách khác lập kế hoạch là xác định trước xem phải làm gì, làm như thế nào, khi nào làm và ai làm. Căn cứ thực trạng ban đầu của tổ chức và căn cứ vào mục tiêu cần phải hướng tới để cụ thể hoá bằng những nhiệm vụ cử tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn. Từ đó tìm ra con đường, biện pháp đưa đơn vị đạt được mục tiêu.
+ Chức năng tổ chức: Là quá trình thiết lập cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, các bộ phận. Từ đó, chủ thể quản lý tác động đến đốí tượng quản lý một cách có hiệu quả bằng cách điều phối các nguồn lực của tổ chức như nhân lực, vật lực và tài lực. Quá trình xây dựng và hoàn thiện cơ cấu tổ chức phải đảm bảo các yêu cầu: Tính tối ưu, tính linh hoạt, độ tin cậy và tính kinh tế. Trong quá trình xây 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dựng cơ cấu tổ chức quản lý cần tính đến các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đó là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống cụ thể có ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức thực hiện.
+ Chức năng chỉ đạo: Là phương thức tác động của chủ thể quản lý nhằm điều hành tổ chức - nhân lực đã có của đơn vị vận hành theo đúng kế hoạch đã vạch ra. Lãnh đạo bao hàm cả liên kết, liên hệ, uốn nắn hoạt động của người, động viên, khuyến khích họ hoàn thành nhiệm vụ. Trong chức năng chỉ đạo, chủ thể quản lý phải trực tiếp ra quyết định (mệnh lệnh) cho nhân viên dưới quyền và hướng dẫn, quan sát, phối hợp, động viên. để thuyết phục, thúc đẩy họ hoạt động đạt được các mục tiêu đó bằng nhiều biện pháp khác nhau.
+ Chức năng kiểm tra: Là hoạt động của chủ thể quản lý tác động đến khách thể quản lý thông qua một cá nhân, nhóm hay tổ chức để xem xét thực tế, đánh giá, giám sát thành quả hoạt động, đồng thời uốn nắn, điều chỉnh các sai sót lệch lạc nhằm thúc đẩy hệ thống sớm đạt được mục tiêu đã định. Để tiến hành kiểm tra, cần phải có các tiêu chuẩn, nội dung và phương pháp kiểm tra, dựa trên các nguyên tắc khoa học để hình thành hệ thống kiểm tra thích hợp Bốn chức năng này có mối liên quan mật thiết với nhau, tương tác lẫn nhau tạo thành một chu trình hoàn chỉnh. Ngoài 4 chức năng quản lý trên, nguồn thông tin là yếu tố cực kỳ quan trọng trong quản lý. Vì thông tin là nền tảng, là huyết mạch của quản lý, không có thông tin thì không có quản lý hoặc quản lý mắc sai phạm, nhờ có thông tin mà sự trao đổi qua lại giữa các chức năng được cập nhật thường xuyên, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời và hiệu quả.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý KẾ HOẠCH KIỂM TRA THÔNG TIN TỔ CHỨC CHỈ ĐẠO 1. Quản lý đào tạo Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “ Đào tạo là một quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững kiến thức, kỹ năng kỹ xảo một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công nhất định, góp phần của mình vào sự phát triển của xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người. Về cơ bản, đào tạo là giảng dạy và học tập trong nhà trường gắn với giáo dục nhân cách”[14,tr289] Như vậy, đào tạo là sự phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo cho mỗi cá nhân để họ thực hiện một nghề hoặc một nhiệm vụ cụ thể một cách tốt nhất.
Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. Quản lý đào tạo: là sự tác động có mục đích, có hệ thống của chủ thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu của nền giáo dục trong việc đào tạo con người có tri thức, kỹ năng, kỹ xảo cùng với quá trình hình thành và phát triển nhân cách với nhiệm vụ trung tâm là quá trình dạy học. Đối tượng của quản lý đào tạo trong nhà trường Trung cấp chuyên nghiệp là hoạt động của giáo viên, học sinh, các phòng khoa chức năng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chất lượng đào tạo Chất lượng tốt sẽ góp phần vào việc tạo nên uy tín thương hiệu của một đơn vị.
Chính vì thế việc nâng cao chất lượng đào tạo là một nhiệm vụ rất quan trọng đối với các cơ sở đào tạo.