Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả của sự nghiệp giáo dục - đào tạo chính là đội ngũ giáo viên. Sự phát triển của GD & ĐT ngày nay đòi hỏi người giáo viên cần có nhiều năng lực, bởi họ sẽ là những người trực tiếp tham gia vào sự nghiệp đào tạo, GD thế hệ trẻ thành những con người có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện đại. Để có được đội ngũ giáo viên đủ mạnh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay, vấn đề đào tạo bồi dưỡng GV là hết sức cần thiết và quan trọng.
Vấn đề này đã được các nhà khoa học GD, các nhà QLGD quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đã bước sang thế kỉ 21 với nền kinh tế trí thức và yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục. Hiện nay ở nước ngoài đã có nhiều tác giả nghiên cứu về nghề dạy học.Bônđurep có sách: “Chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông”. Trong cuốn sách này vai trò kỹ năng sư phạm đối với nghề dạy học được tác giả quan tâm đặc biệt và nhấn mạnh rằng những kỹ năng đó chỉ được hình thành và củng cố trong hoạt động thực tiễn của người thầy giáo. Theo tác giả những yêu cầu chuyên môn của người thầy giáo không phải chỉ có những kiến thức phong phú mà còn phải có những kĩ năng cần thiết để tổ chức và thực hành công tác GD.
Muốn làm công tác giáo dục tốt cần phải có những kĩ năng giáo dục và thời gian. Vì vậy việc BDGV nhất thiết phải được làm thường xuyên. [3] Tác giả Michell Develey trong cuốn “Một số vấn đề đào tạo giáo viên” có đề cập đến vấn đề đào tạo GV bao gồm nhiều công đoạn: quan niệm, nội dung, phương thức đào tạo, tính chất và bản sắc nghề nghiệp… đó là một cuốn sách góp phần đổi mới sự nghiệp đào tạo BDGV. [12] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam hiện nay, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, nhiều cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý giáo dục,… quan tâm nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên ở các góc độ, nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao trình độ, vị trí, vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên và của công tác đào tạo bồi dưỡng giáo viên.
Trước những năm 1970 việc nghiên cứu về xây dựng đội ngũ GV không theo những đề tài riêng mà được tiến hành gần với các đề tài giáo dục học và tâm lý học, về nội dung và phương pháp dạy học các môn học. Từ đầu những năm 1970, do nhu cầu nghiên cứu chuẩn bị cho cải cách giáo dục nên những vấn đề người GV và việc xây dựng đội ngũ GV được coi trọng hơn. Tổ chức nghiên cứu cải cách sư phạm đã được hình thành ở Cục đào tạo và BDGV với những vấn đề như: tổng kết kinh nghiệm xây dựng đội ngũ giáo viên ở các trường tiên tiến; nghiên cứu vị trí, vai trò và nhiệm vụ của người giáo viên và của công tác đào tạo và BDGV,… Nhưng vấn đề chỉ là những bài viết, những quy định của ngành trong các cuốn nội san hoặc các quyết định về quy chế tạm thời của Bộ GD. Trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt từ năm 1987 sau khi cơ quan nghiên cứu của Bộ Giáo dục hợp nhất thành Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, là trung tâm nghiên cứu ĐT và BD giáo viên với nhiệm vụ nghiên cứu những vấn đề cơ bản và cấp bách về người GV và việc xây dựng đội ngũ GV.
Nhiều nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu về nghề dạy học, về những vấn đề như thực tập NVSP tập trung, rèn luyện NVSP thường xuyên, nhân cách người thầy giáo, đặc điểm lao động sư phạm của người thầy giáo,. Trải qua các giai đoạn phát triển của đất nước, vấn đề bồi dưỡng được nâng lên một tầm cao mới. Nghị quyết các Đại hội Đảng từ khoá IV đã tiếp thêm sức mạnh cho giáo dục phát triển. Đến năm 1998, vấn đề bồi dưỡng giáo viên đã được đưa thành chính sách quốc gia và tiếp tục duy trì 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở Luật GD 2005: “Nhà nước có chính sách bồi dưỡng nhà giáo về chuyên môn, nghiệp vụ để nâng cao trình độ và chuẩn hoá nhà giáo.
Nhà giáo được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, được hưởng lương và phụ cấp theo quy định của Chính phủ” (Mục 3, Điều 80) Bồi dưỡng NVSP là một hoạt động không thể thiếu được trong công tác BDGV đang tham gia công tác giảng dạy. Các vấn đề liên quan tới đào tạo và BDNVSP cho GV đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều chuyên gia đề cập tới. Đã có khá nhiều công trình như: Lê Trần Lâm với “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên” (1992); Nguyễn Hữu Long chủ nhiệm đề tài: “Xây dựng và hoàn thiện quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm theo quy trình đào tạo mới” (Đại học SP 1 Hà Nội - 1994); Nguyễn Minh Đường với “Bồi dưỡng và đào tạo lại nguồn nhân lực” (1996); Nguyễn Hữu Dũng với “Hình thành kỹ năng sư phạm cho sinh viên” (1995); Phạm Trung Thanh và Nguyễn Thị Lý với “Rèn luyện nghiệp vụ SP thường xuyên” (2004),… Ngoài ra còn khá nhiều các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các luận văn, bài báo đề cập tới hoạt động bồi dưỡng giáo viên nhưng ít công trình đề cập tới hoạt động BDNVSP cho giáo viên các trường cao đẳng công nghệ. Trong bối cảnh chung của các trường cao đẳng công nghệ, đa số giáo viên của trường, ngoại trừ một số nhỏ giáo viên dạy các môn khoa học cơ bản, chưa qua đào tạo tại các trường sư phạm thì việc nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động BDNVSP cho giáo viên là hết sức cần thiết để góp phần nâng cao chất lượng quản lý đội ngũ cũng như giúp giáo viên hoàn thiện và nâng cao kỹ năng dạy học và giáo dục, tiến tới đạt chuẩn về đội ngũ.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý và quản lý nhà trường 1. Quản lý và quản lý giáo dục 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * Khái niệm quản lý Từ khi xuất hiện hoạt động lao động tạo ra các giá trị phục vụ cuộc sống đã hình thành sự phân công lao động, sự hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt hiệu quả và năng suất lao động cao hơn. Do đó cần có người đứng đầu để chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, điều chỉnh…, xuất hiện người quản lý và sự quản lý.
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam tập 1: Quản lý khi là động từ mang ý nghĩa: + “Quản” là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định + “Lý” là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo yêu cầu nhất định Hiểu theo ngôn ngữ Hán Việt, công tác “quản lý” là thực hiện hai quá trình liên hệ chặt chẽ với nhau: “quản” và “lý”. Quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ ở trạng thái “ổn định”.; quá trình “lý” gồm việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa hệ vào thế “phát triển”. Nếu người quản lý chỉ lo việc “quản” tức là chỉ lo việc coi sóc, giữ gìn thì tổ chức dễ trì trệ; tuy nhiên nếu chỉ quan tâm đến việc “lý” tức là chỉ lo việc sắp xếp, tổ chức, đổi mới mà không đặt trên nền tảng của sự ổn định, thì hệ phát triển không bền vững. Nói chung, trong “quản” phải có “lý” và trong “lý” phải có “quản”, làm cho trạng thái hoạt động của hệ ở thế cân bằng động.
Hệ vận động phù hợp, thích ứng và có hiệu quả trong mối tương tác giữa các nhân tố bên trong (nội lực) với các nhân tố bên ngoài (ngoại lực). Sự quản lý đưa đến kết quả đích thực bền vững đòi hỏi phải có mưu lược, nghệ thuật làm cho hai quá trình “quản” và “lý” tích hợp vào nhau. Nói đến quản lý không thể không nhắc đến tư tưởng sâu sắc của Các - Mác, ông nhìn nhận vấn đề quản lý dưới ý tưởng phân công và hợp tác 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong lao động: “Một nghệ sỹ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”. Thời Xuân Thu Chiến Quốc, Khổng Tử (551 - 479 TCN) cũng đã xác định vai trò của người quản lý, đó là người quản lý mà chính trực thì không cần phải tôn nhiều công sức mà vẫn có thể “chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”.
Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói rằng: “ Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo”. Tiếng Việt cũng có từ “quản lý” và “lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và “leader” trong tiếng Anh. Trong thực tế chúng ta vẫn thường lẫn lộn hai khái niệm. Không phải nhà quản lý nào cũng là nhà lãnh đạo và không phải nhà lãnh đạo nào cũng là nhà quản lý.
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, vấn đề quản lý theo khoa học mới xuất hiện. Người khởi xướng là Fredrich Winslow Taylor với cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học”. Theo ông thì người quản lý phải là nhà tư tưởng, nhà lên kế hoạch chỉ đạo tổ chức công việc. [29] Tác giả Nguyễn Minh Đạo trong cuốn “Cơ sở khoa học quản lý” thì cho rằng quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý về mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế,… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng.
[18] Tác giả Đỗ Hoàng Toàn trong cuốn “Lý thuyết quản lý” cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của hệ thống để đạt mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”.