Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế lâm nghiệp tại Việt Nam, cây Keo tai tượng (Acacia mangium) là một trong những loài cây trồng rừng kinh tế mọc nhanh chủ lực, cung cấp nguồn gỗ nguyên liệu quan trọng cho ngành sản xuất giấy và chế biến gỗ. Tuy nhiên, việc mở rộng diện tích trồng rừng thuần loài quy mô lớn và tập trung qua nhiều luân kỳ đã phá vỡ thế cân bằng sinh thái, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sâu bệnh hại phát sinh, lây lan và bùng phát thành dịch. Trên thế giới, đặc biệt là tại các quốc gia Đông Nam Á như Indonesia và Malaysia, bệnh chết héo do nấm Ceratocystis spp. đã gây thiệt hại nghiêm trọng trên hàng chục nghìn hecta rừng trồng keo, làm sụt giảm năng suất từ mức 22–35 $\text{m}^3\text{/ha/năm}$ xuống dưới 15 $\text{m}^3\text{/ha/năm}$. Tại Việt Nam, theo thống kê của Cục Bảo vệ thực vật đến cuối năm 2015, bệnh chết héo đã xuất hiện tại 17 tỉnh với tổng diện tích nhiễm bệnh gần 2.000 ha (trong đó hơn 90 ha bị chết hoàn toàn), có những lô rừng ghi nhận tỷ lệ cây bị hại lên tới 85%. Đồng thời, loài mọt đục thân Euwallacea fornicatus kết hợp mang theo nấm truyền bệnh Fusarium euwallacea cũng xuất hiện và gây hại nghiêm trọng đến sinh trưởng và phẩm cấp gỗ của các loài keo từ 3 tuổi trở lên tại nhiều địa phương.

Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm giống cây nguyên liệu giấy huyện Hàm Yên (tỉnh Tuyên Quang) là đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Giấy Việt Nam, có nhiệm vụ nghiên cứu, khảo nghiệm, sản xuất và cung ứng cây giống phục vụ vùng nguyên liệu cho Nhà máy Giấy Bãi Bằng. Trong giai đoạn 2014–2017, các diện tích rừng trồng và vườn ươm tại Trung tâm xuất hiện nhiều loài dịch hại diễn biến phức tạp như bệnh chết héo, mọt đục thân, sâu ăn lá, bệnh thối rễ, đòi hỏi phải có nghiên cứu chuyên sâu và mang tính hệ thống. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Tuyết Nhung được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn này.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định gồm:

  1. Xác định được thành phần sâu bệnh hại chính trên cây Keo tai tượng tại Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm giống cây nguyên liệu giấy huyện Hàm Yên.
  2. Đề xuất được biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại chính tại khu vực nghiên cứu.

Nội dung và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Xác định thành phần sâu bệnh hại trên cây Keo tai tượng tại khu vực nghiên cứu.
  2. Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài sâu bệnh hại chính.
  3. Thử nghiệm một số biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại chính (biện pháp kỹ thuật lâm sinh và chế phẩm sinh học).
  4. Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại chính.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cây Keo tai tượng ở các giai đoạn tuổi (cây con ở vườn ươm, rừng trồng dưới 3 tuổi và rừng trồng từ 3 tuổi trở lên) cùng các loài côn trùng, vi sinh vật gây hại liên quan.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành điều tra, thu thập mẫu và thực nghiệm từ ngày 13/02/2017 đến ngày 13/05/2017.
  • Phạm vi không gian: Các diện tích vườn ươm, vườn vật liệu và các lô rừng trồng Keo tai tượng do Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm giống cây nguyên liệu giấy huyện Hàm Yên quản lý (trên địa bàn xã Nhân Mục, xã Bằng Cốc và thị trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa các cơ sở lý luận về côn trùng học lâm nghiệp và bệnh học cây rừng của các tác giả trong và ngoài nước (Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, Trần Văn Mão, Phạm Quang Thu, Harrington, Wingfield). Các nghiên cứu nền tảng chỉ ra rằng tác nhân gây bệnh chết héo trên cây keo chủ yếu do nấm Ceratocystis manginecans và Phytophthora sp., trong khi mọt Euwallacea fornicatus thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera), họ Vòi voi (Curculionidae) là đối tượng đục thân nguy hiểm có khả năng truyền dẫn nấm bệnh vào mạch dẫn của cây. Bên cạnh đó, các hướng phòng trừ sinh học sử dụng vi sinh vật nội sinh, chế phẩm vi sinh hỗn hợp MF1, bẫy dẫn dụ pheromone và các tác động lâm sinh (tỉa cành, tỉa thưa) được sử dụng làm khung lý thuyết định hướng cho các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra thực địa được triển khai theo các quy chuẩn bảo vệ thực vật lâm nghiệp:

  • Phương pháp điều tra ô tiêu chuẩn (OTC): Để xác định mật độ và mức độ gây hại, tác giả thiết lập 09 ô tiêu chuẩn với diện tích $1.000\text{ m}^2$ ($25\text{m} \times 40\text{m}$) trên 2 lâm phần rừng Keo tai tượng trồng năm 2014 (3 tuổi). Các OTC được bố trí đại diện theo 3 vị trí địa hình (chân đồi, sườn đồi, đỉnh đồi) và 3 hướng dốc chính (Đông Bắc, Tây Bắc, Tây Nam). Góc vuông của ô được xác định theo định lý Pythagoras (tam giác 3m–4m–5m) với sai số khép góc nhỏ hơn 1/200. Trong mỗi OTC, tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng ($D_{1.3}$, $H_{vn}$) trên 30 cây tiêu chuẩn được chọn ngẫu nhiên hệ thống.
  • Phương pháp điều tra sâu bệnh trên cây: Tiến hành chọn cây điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống (cách 1 hàng điều tra 1 hàng, cách 5 cây điều tra 1 cây), dung lượng mẫu đạt 10% tổng số cây trong OTC. Điều tra định kỳ 15 ngày/lần qua 3 đợt (Đợt 1: 15/02–01/03/2017; Đợt 2: 02/03–17/03/2017; Đợt 3: 18/03–01/04/2017). Trên mỗi cây tiêu chuẩn, chọn 5 cành theo 5 hướng (Đông, Tây, Nam, Bắc và ngọn), mỗi cành lấy 6 lá tiêu chuẩn để quan sát mức độ hại.
  • Phương pháp điều tra côn trùng đất: Trong mỗi OTC, bố trí 5 ô dạng bản diện tích $1\text{ m}^2$ ($1\text{m} \times 1\text{m}$) gồm 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở trung tâm. Dùng cuốc xới từng lớp đất sâu 10 cm, bóp nhỏ đất để tìm kiếm mẫu vật côn trùng và phân loại riêng theo từng tầng đất.
  • Phương pháp phân cấp và xử lý số liệu: Mức độ bị hại trên phiến lá được phân thành 5 cấp: Cấp 0 (không bị hại), Cấp I (< 25% diện tích lá bị hại), Cấp II (26–50%), Cấp III (51–75%), Cấp IV (> 75%). Các chỉ tiêu toán học áp dụng gồm:
    • Tỷ lệ cây bị hại ($P%$): $$P% = \frac{n}{N} \times 100%$$ (với $n$ là số cây bị hại, $N$ là tổng số cây điều tra).
    • Mức độ bị hại ($R%$): $$R% = \frac{\sum (n_i \cdot v_i)}{N \cdot V} \times 100%$$ (với $n_i$ là số cây bị hại ở cấp $i$, $v_i$ là trị số của cấp bị hại thứ $i$, $V$ là trị số cấp hại cao nhất với $V=4$).
  • Phương pháp định loại và xác định đặc điểm sinh vật học: Thu thập 12 mẫu bệnh và đất (4 mẫu/loài/tuổi trên 3 cấp tuổi cây) mang về phòng thí nghiệm phân lập trên môi trường thạch khoai tây Dextrose Agar (PDA), quan sát cấu tạo hình thái cơ quan sinh sản của nấm dưới kính hiển vi. Mẫu côn trùng trưởng thành, sâu non, nhộng được thu bắt và bảo quản trong cồn/rượu để định loại theo tài liệu khóa phân loại.
  • Phương pháp thử nghiệm phòng trừ:
    • Thử nghiệm lâm sinh: Bố trí 2 công thức thí nghiệm trên rừng Keo tai tượng 3 tuổi với diện tích mỗi ô là $1.000\text{ m}^2$ (Công thức 1: Chặt tỉa thưa, tỉa cành đúng kỹ thuật; Công thức 2: Ô đối chứng không tỉa). Đánh giá tỷ lệ bị hại sau 15 ngày và 30 ngày.
    • Thử nghiệm chế phẩm sinh học: Bố trí 2 công thức tại vườn ươm trên các ô dạng bản $1\text{ m}^2$ lập trên luống cây con (Công thức 1: Phun nước lã đối chứng; Công thức 2: Phun chế phẩm vi sinh hỗn hợp MF1). Theo dõi tỷ lệ và mức độ bệnh chết héo sau 15 ngày và 30 ngày.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu đo đếm sơ cấp tại thực địa, số liệu khí tượng thủy văn huyện Hàm Yên, hồ sơ quản lý đất đai - lâm phần của Trung tâm và các kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về sâu hại và bệnh hại cây keo trên thế giới và tại Việt Nam. Về sâu hại, tác giả tổng hợp từ các nghiên cứu cổ điển của Nga, Trung Quốc đến các công bố hiện đại về phân loại côn trùng cánh cứng bộ Coleoptera. Nghiên cứu của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2016) xác định loài mọt đục thân Euwallacea fornicatus (thuộc phân họ Scolytinae, họ Curculionidae) xuất hiện gây hại keo tại nhiều tỉnh thành và có quan hệ cộng sinh mang theo nấm Fusarium euwallacea. Về bệnh hại, chương tổng quan phân tích sâu tác nhân gây bệnh chết héo gồm nấm Phytophthora spp. và nấm Ceratocystis spp. (đặc biệt là Ceratocystis manginecans và Ceratocystis acaciivora). Tác giả cũng tổng hợp các nghiên cứu về đặc điểm hình thái bào tử nấm Ceratocystis, các biện pháp phòng trừ sinh học bằng vi sinh vật nội sinh (Trichoderma, xạ khuẩn Ditacin, vi khuẩn nội sinh đối kháng), chế phẩm vi sinh hỗn hợp viên nén MF1 và hướng tiếp cận chọn tạo giống keo kháng bệnh.

Chương II: Mục tiêu, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả trình bày chi tiết mục tiêu, đối tượng, nội dung và các phương pháp nghiên cứu khoa học lâm nghiệp được áp dụng. Nội dung chương mô tả chi tiết phương pháp lập 09 ô tiêu chuẩn $1.000\text{ m}^2$ trên rừng Keo tai tượng 3 tuổi, quy trình ngẫu nhiên hệ thống chọn cây và cành điều tra qua 3 đợt, kỹ thuật đào ô dạng bản $1\text{ m}^2$ kiểm tra côn trùng đất, bảng phân cấp hại từ cấp 0 đến cấp IV và các công thức tính tỷ lệ bị bệnh ($P%$) và mức độ bị hại ($R%$). Chương cũng nêu rõ quy trình thu mẫu, phân lập nấm trên môi trường PDA và phương pháp bố trí thực nghiệm kỹ thuật lâm sinh và chế phẩm MF1.

Số hiệu OTC Vị trí địa hình Hướng dốc Độ cao (m) Độ dốc (độ) Số cây/OTC Năm trồng $D_{1.3}$ trung bình (cm) $H_{vn}$ trung bình (m)
1 Chân đồi Đông Bắc 50 11 125 2014 5,86 7,80
2 Sườn đồi Đông Bắc 80 18 114 2014 7,25 9,27
3 Đỉnh đồi Đông Bắc 115 15 133 2014 7,10 8,70
4 Chân đồi Tây Bắc 65 12 128 2014 7,38 8,68
5 Sườn đồi Tây Bắc 90 19 133 2014 7,13 7,80
6 Đỉnh đồi Tây Bắc 120 17 137 2014 6,80 8,30
7 Chân đồi Tây Nam 55 11 146 2014 6,60 8,50
8 Sườn đồi Tây Nam 95 18 118 2014 6,90 9,20
9 Đỉnh đồi Tây Nam 130 15 123 2014 6,45 8,20

Chương III: Đặc điểm khu vực nghiên cứu

Chương III phân tích các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại địa bàn nghiên cứu. Trung tâm nằm trong tọa độ địa lý $20^\circ 00' - 22^\circ 15'$ vĩ độ Bắc và $104^\circ 05' - 105^\circ 10'$ kinh độ Đông. Địa hình chủ yếu là đồi núi thấp và trung bình (cao từ 200–300 m, cao nhất 400 m), trong đó diện tích có độ dốc $\ge 30^\circ$ chiếm khoảng 70%. Thổ nhưỡng chủ đạo là nhóm đất Feralitic đỏ vàng phát triển trên đá mẹ biến chất. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình năm $23^\circ\text{C}$ (thấp nhất $15,3^\circ\text{C}$, cao nhất $28^\circ\text{C}$), lượng mưa bình quân $1.800\text{ mm}$ tập trung vào tháng 6–8, độ ẩm không khí 80–85% (tháng 3 đạt 87%).

Về hiện trạng đất đai, Trung tâm quản lý tổng diện tích $579,06\text{ ha}$, gồm:

  • Đất rừng sản xuất: $479,80\text{ ha}$ (chiếm 83,27%).
  • Đất trống trồng rừng sản xuất: $91,52\text{ ha}$ (chiếm 15,88%).
  • Đất trồng cây công nghiệp lâu năm: $2,60\text{ ha}$ (chiếm 0,45%).
  • Đất trồng cây lâu năm khác: $0,53\text{ ha}$ (chiếm 0,092%).
  • Đất thủy lợi: $1,75\text{ ha}$ (chiếm 0,30%).

Về mặt kinh tế - xã hội, khu vực gồm 3.574 hộ dân với 9.530 lao động trong độ tuổi. Trung tâm duy trì lực lượng lao động 33 người (9 cán bộ quản lý nghiệp vụ, 6 nữ), thực hiện phương thức khoán sản phẩm và duy trì diện tích rừng trồng hơn 600 ha.

Chương IV: Kết quả và phân tích kết quả

Qua 3 đợt điều tra tại Trung tâm, tác giả đã phát hiện và phân loại được 3 loại bệnh và 2 loài côn trùng gây hại trên cây Keo tai tượng:

STT Tên Việt Nam Tên khoa học Bộ / Họ Pha thu thập Bộ phận bị hại
1 Mọt hại thân Euwallacea fornicatus Coleoptera: Curculionidae Trứng, sâu non, nhộng, trưởng thành Thân cây
2 Mối đất Macrotermes sp. Isoptera: Termitidae Trưởng thành Thân cây
3 Bệnh chết héo Ceratocystis manginecans Ophiostomatales: Ophiostomataceae — Thân, vỏ, rễ
4 Bệnh thối rễ cám Phytophthora cinnamomi Rands. Pythiales: Pythiaceae — Rễ cám (vườn ươm)
5 Bệnh tuyến trùng hại rễ Meloidogyne sp. Tylenchida: Heteroderidae — Rễ (vườn ươm)

Phân tích mức độ gây hại cho thấy loài mọt Euwallacea fornicatus và nấm bệnh Ceratocystis manginecans là 2 đối tượng gây hại chính và nguy hiểm nhất trên rừng trồng Keo tai tượng:

  • Mọt đục thân E. fornicatus: Tỷ lệ cây bị hại ($P%$) lên tới 90,8%, mức độ bị hại ($R%$) là 51,2%.
  • Bệnh chết héo C. manginecans: Tỷ lệ cây bị bệnh ($P%$) là 79,2%, mức độ bị bệnh ($R%$) là 59,2%.

Về đặc điểm sinh vật học:

  • Mọt Euwallacea fornicatus: Trưởng thành cái dài 1,83–1,90 mm màu đen; con đực dài 1,45–1,55 mm màu nâu. Râu đầu hình chùy 4 đốt, đốt thứ tư phình to. Trứng hình oval dài 0,23–0,40 mm, đẻ thành từng nhóm 14–17 quả ở cuối đường hầm trong thân gỗ. Sâu non có 3 tuổi: tuổi 1 dài 0,90–0,97 mm; tuổi 2 dài 1,30–1,36 mm; tuổi 3 dài 1,80–1,85 mm. Nhộng dài 1,97–2,07 mm, rộng 0,97–1,07 mm. Mọt đục tạo nhiều lỗ nhỏ và đường hầm chằng chịt trong thân gỗ, đùn mùn gỗ ra ngoài, làm suy giảm cơ lý tính của gỗ và khiến cây dễ gãy đổ khi có gió bão.
  • Bệnh chết héo Ceratocystis manginecans: Thể quả hình cầu/gần cầu màu nâu đen có đường kính $145–280\ \mu\text{m} \times 95–195\ \mu\text{m}$ với cổ dài $250–660\ \mu\text{m}$. Bào tử hữu tính hình mũ dài 4,2–8,8 $\mu\text{m}$, rộng 2,1–4,8 $\mu\text{m}$. Bào tử vô tính sơ sinh hình trụ ($11,5–18,6\ \mu\text{m} \times 1,6–4,8\ \mu\text{m}$), thứ sinh hình trống ($4,5–9,6\ \mu\text{m} \times 2,7–6,1\ \mu\text{m}$). Bào tử áo dài $10,6–24,5\ \mu\text{m}$, rộng $8,2–13,5\ \mu\text{m}$. Triệu chứng điển hình là thân cây xì mủ, chảy nhựa, vỏ và gỗ bị biến màu sang nâu đen hoặc xanh đen, tắc mạch dẫn làm tán lá héo khô từ ngọn xuống nhưng lá vẫn dính trên cành trước khi rụng và làm chết cây.

Kết quả thử nghiệm biện pháp kỹ thuật lâm sinh (tỉa cành, tỉa thưa) trên rừng 3 tuổi cho thấy hiệu quả rõ rệt trong việc làm giảm áp lực sâu bệnh:

Công thức Trước tỉa thưa Sau 15 ngày Sau 30 ngày
$P_s%$ (Mọt) $P_b%$ (Bệnh) $P_s%$ (Mọt) $P_b%$ (Bệnh) $P_s%$ (Mọt) $P_b%$ (Bệnh)
Ô Tỉa thưa 88,33 71,03 75,15 65,53 62,21 55,13
Ô Đối chứng 79,05 67,07 78,43 67,17 80,35 70,12

Sau 30 ngày áp dụng tỉa thưa, tỷ lệ cây bị mọt hại ở ô thí nghiệm giảm từ 88,33% xuống 62,21% (trong khi ô đối chứng tăng lên 80,35%); tỷ lệ cây bị bệnh chết héo giảm từ 71,03% xuống 55,13% (trong khi đối chứng tăng lên 70,12%).

Chương V: Kết luận - Tồn tại - Kiến nghị

Tác giả tổng kết lại các phát hiện chính về thành phần loài dịch hại, khẳng định vai trò của biện pháp lâm sinh và đưa ra các kiến nghị kỹ thuật nhằm quản lý dịch hại tổng hợp tại Trung tâm.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã cung cấp tập số liệu thực nghiệm đầy đủ về tình hình sâu bệnh hại trên cây Keo tai tượng tại vùng nguyên liệu giấy Hàm Yên (Tuyên Quang). Các kết quả chính gồm:

  • Định danh được 5 loài dịch hại (3 loài bệnh, 2 loài côn trùng) và xác định rõ 2 đối tượng chủ yếu gây chết rừng trồng là mọt đục thân Euwallacea fornicatus (tỷ lệ hại 90,8%) và nấm chết héo Ceratocystis manginecans (tỷ lệ bệnh 79,2%). Các bệnh thối rễ cám (Phytophthora cinnamomi) và tuyến trùng (Meloidogyne sp.) chủ yếu gây hại ở giai đoạn vườn ươm.
  • Chứng minh hiệu quả của biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Sau 30 ngày thực hiện tỉa thưa và tỉa cành đúng kỹ thuật, tỷ lệ hại của mọt đục thân giảm 26,12% và tỷ lệ bệnh chết héo giảm 15,90% so với thời điểm trước khi xử lý, trong khi các ô đối chứng không tỉa thưa đều có xu hướng gia tăng mức độ nhiễm hại.

Hệ thống giải pháp quản lý dịch hại tổng hợp do tác giả đề xuất bao gồm:

  1. Biện pháp kỹ thuật lâm sinh: Áp dụng kỹ thuật tỉa đầu cành khi cây đạt chiều cao 1,4–1,5 m. Tiến hành tỉa cành vào mùa khô, chỉ tỉa khi cành còn sống và tránh làm tổn thương sát thân chính để hạn chế tạo vết thương hở cho nấm xâm nhiễm. Thực hiện tỉa thưa đúng mật độ để tạo độ thông thoáng tán rừng.
  2. Biện pháp sinh học và bẫy dẫn dụ: Ứng dụng bẫy panel và bẫy lưới sử dụng chất dẫn dụ pheromone (chất dẫn dụ para methanol) để thu bắt mọt trưởng thành Euwallacea fornicatus. Sử dụng chế phẩm vi sinh vật hỗn hợp dạng viên nén MF1 để phòng trừ nấm bệnh và kích kháng cho cây con.
  3. Biện pháp quản lý giống: Tuyển chọn và đưa vào cơ cấu trồng rừng các dòng keo có khả năng chống chịu bệnh cao, loại bỏ hạt giống thu hái từ cây mẹ bị nhiễm bệnh.
  4. Biện pháp phòng trừ tại vườn ươm: Xử lý đất bầu, giá thể ươm cây định kỳ nhằm tiêu diệt nấm Phytophthora cinnamomi và tuyến trùng Meloidogyne sp., tiêu hủy kịp thời các cây con có biểu hiện thối rễ.

Đóng góp của khóa luận nằm ở việc gắn liền công tác điều tra phân loại với thực nghiệm lâm sinh cụ thể tại một cơ sở sản xuất giống lâm nghiệp trọng điểm, cung cấp cơ sở khoa học trực tiếp cho công tác bảo vệ rừng nguyên liệu giấy tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế do tác giả tự nhận định và giới hạn phạm vi nghiên cứu:

  • Thời gian nghiên cứu chỉ diễn ra trong vòng 3 tháng (từ ngày 13/02/2017 đến ngày 13/05/2017), trùng vào giai đoạn chuyển mùa xuân - hè nên chưa theo dõi được đầy đủ chu kỳ phát sinh, phát triển của sâu bệnh qua tất cả các mùa trong năm.
  • Không gian điều tra tập trung tại Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm giống cây nguyên liệu giấy Hàm Yên, số lượng loài thu thập được (5 loài) còn ở mức độ khiêm tốn so với phổ dịch hại trên toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng điều tra diễn biến mật độ sâu bệnh theo chu kỳ cả năm, đồng thời triển khai thử nghiệm diện rộng các loại bẫy pheromone và đánh giá liều lượng tối ưu của chế phẩm sinh học MF1 ngoài hiện trường rừng trồng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm sinh, Bảo vệ thực vật và Lâm nghiệp đô thị.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các công ty lâm nghiệp, ban quản lý rừng phòng hộ/đặc dụng và các trung tâm giống cây trồng lâm nghiệp trong việc nhận dạng triệu chứng lâm sàng của bệnh chết héo (C. manginecans) và mọt đục thân (E. fornicatus).
  • Phần có giá trị tham khảo cao nhất là quy trình thiết lập ô tiêu chuẩn điều tra dịch hại rừng trồng (Chương II) và hướng dẫn kỹ thuật tỉa đầu cành nhằm ngăn ngừa nấm bệnh xâm nhiễm (Chương IV).

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận đã ghi nhận những loài sâu bệnh hại cụ thể nào trên cây Keo tai tượng tại Trung tâm Hàm Yên?
Nghiên cứu đã phát hiện 5 loài dịch hại thuộc 5 bộ khác nhau, gồm 2 loài côn trùng: Mọt hại thân (Euwallacea fornicatus - bộ Coleoptera) và Mối đất (Macrotermes sp. - bộ Isoptera); cùng 3 loài nấm và vi sinh vật gây bệnh: Bệnh chết héo (Ceratocystis manginecans - bộ Ophiostomatales), Bệnh thối rễ cám (Phytophthora cinnamomi Rands. - bộ Pythiales) và Bệnh tuyến trùng hại rễ (Meloidogyne sp. - bộ Tylenchida).

2. Hai loài sâu bệnh hại chính gây thiệt hại nặng nhất trên rừng trồng Keo tai tượng là gì và tỷ lệ gây hại là bao nhiêu?
Hai loài gây hại chính là Mọt đục thân (Euwallacea fornicatus) với tỷ lệ cây bị hại là 90,8% (mức độ bị hại 51,2%) và Bệnh chết héo do nấm (Ceratocystis manginecans) với tỷ lệ cây bị bệnh là 79,2% (mức độ bị hại 59,2%).

3. Kỹ thuật tỉa cành lâm sinh được tác giả khuyến nghị thực hiện như thế nào để tránh lây nhiễm nấm bệnh?
Tác giả khuyến nghị nên tỉa đầu cành khi cây đạt chiều cao 1,4–1,5 m nhằm hạn chế cành phát triển quá lớn. Việc tỉa cành bắt buộc phải thực hiện vào mùa khô khi cành còn đang sống, chỉ tỉa đỉnh sinh trưởng của cành chính và tránh cắt sát thân cây hoặc tỉa vào mùa mưa để ngăn chặn nấm bệnh xâm nhiễm qua vết cắt ướt.

4. Sau 30 ngày thử nghiệm biện pháp tỉa thưa trên rừng keo 3 tuổi, hiệu quả phòng trừ mọt và bệnh chết héo thay đổi ra sao?
Tại ô tiêu chuẩn có tỉa thưa, tỷ lệ hại do mọt giảm từ 88,33% xuống còn 62,21% và tỷ lệ bệnh chết héo giảm từ 71,03% xuống còn 55,13%. Ngược lại, tại ô đối chứng không tỉa thưa, tỷ lệ hại do mọt tăng từ 79,05% lên 80,35% và tỷ lệ bệnh chết héo tăng từ 67,07% lên 70,12%.

5. Chất dẫn dụ nào được đề xuất sử dụng trong bẫy để phòng trừ mọt đục thân Euwallacea fornicatus?
Tác giả đề xuất sử dụng chất dẫn dụ para methanol kết hợp với bẫy panel hoặc bẫy lưới để dẫn dụ và thu bắt mọt đục thân trưởng thành.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Tuyết Nhung đã làm rõ thành phần dịch hại và đặc điểm sinh vật học của hai đối tượng gây hại nghiêm trọng nhất trên cây Keo tai tượng tại Trung tâm Nghiên cứu và Thực nghiệm giống cây nguyên liệu giấy huyện Hàm Yên là mọt đục thân Euwallacea fornicatus và nấm chết héo Ceratocystis manginecans. Kết quả thực nghiệm khẳng định việc áp dụng kỹ thuật lâm sinh (tỉa cành mùa khô, tỉa thưa hợp lý) kết hợp với bẫy pheromone và chế phẩm sinh học giúp suy giảm rõ rệt tỷ lệ nhiễm hại trên rừng trồng. Đây là công trình nghiên cứu thực nghiệm có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu hữu ích cho công tác quản lý dịch hại tổng hợp vùng nguyên liệu giấy tại tỉnh Tuyên Quang.