ĐẶT VẤN ĐỀ Kinh doanh rừng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, việc kinh doanh rừng theo hƣớng trồng thuần loài với quy mô lớn đã phát sinh một số dịch hại. Đối với Keo tai tƣợng, những năm gần đây đã xuất hiện sâu bệnh gây hại. Hiện nay các loài nấm Ceratocystis spp.
đang gây bệnh chết héo rừng trồng keo ở một số nƣớc vùng Đông Nam Á nhƣ ở Indonexia có hàng nghìn ha rừng keo bị chết héo, dẫn đến năng suất trung bình của rừng trồng từ 22-35m3/ha/năm giảm xuống dƣới 15m3/ha/năm (Carroline, 2015). Tại Malaysia, bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây hại cũng đang gây tổn thất lớn cho ngành Lâm nghiệp nƣớc này. Chính phủ Malaysia đang hạn chế trồng một số giống keo, ở một số vùng ảnh hƣởng lớn.
Còn ở Việt Nam, theo đánh giá của Carroline (2015), tỷ lệ bị bệnh chết héo trung bình của rừng trồng các loài keo khoảng 20%. Từ năm 2014, bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. xuất hiện và gây hại các loài keo trên khắp các địa phƣơng của Việt Nam. Điển hình nhƣ ở Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Bắc Giang, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Dƣơng và Đồng Nai đã xuất hiện bệnh chết héo gây hại nhiều, trong đó có những lô rừng keo bị hại nặng, với tỷ lệ bị hại lên đến 85%, các cây bị bệnh sau một thời gian ngắn đều bị chết gây tổn thất lớn về năng suất rừng.
Theo báo cáo của Cục Bảo vệ thực vật, tổng hợp báo cáo của 33/63 tỉnh trên cả nƣớc Việt Nam, đến cuối năm 2015 đã có 17 tỉnh ghi nhận có bệnh chết héo gây hại rừng keo, với tổng diện tích nhiễm bệnh gần 2.000 ha, trong đó có hơn 90 ha bị chết do bệnh hại. Bên cạnh đó, rừng càng đƣợc trồng trên quy mô lớn là những điều kiện thuận lợi về thức ăn cho sâu bệnh phát sinh và phát triển tần suất cao hậu quả khó có thể lƣờng trƣớc đƣợc. Mọt đục thân gây hại Keo tai tƣợng, Keo lai và Keo lá tràm từ 3 tuổi trở lên tại các tỉnh Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Phú Yên, Gia Lai, Kon Tum, Đồng Nai và Bình 1 Dƣơng đã ảnh hƣởng đến khả năng sinh trƣởng và phát triển của cây, chất lƣợng của gỗ keo. Loài mọt này đƣợc giám định Euwallacea fornicatus (Eichhoff, 1868), thuộc phân họ Scolytinae, họ Curculionidae, bộ Coleoptera.
Loài mọt này mới phát hiện có tiềm năng gây hại nghiêm trọng cho rừng Keo tai tƣợng, Keo lai và Keo lá tràm ở Việt Nam. Mọt mang theo nấm đƣợc xác định là Fusarium euwallacea, loài nấm có thể lây nhiễm ra toàn bộ cây và có thể gây chết cây. Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm giống cây nguyên liệu giấy Hàm Yên có chức năng, nhiệm vụ chính là: vừa nghiên cứu, vừa thực nghiệm ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, cung cấp giống cây phục vụ trồng rừng nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng - Tổng Công ty Giấy Việt Nam, trong những năm gần đây các loài sâu bệnh hại đã và đang diễn biến khá phức tạp, nhiều diện tích rừng cũng nhƣ cây con bị các loài sâu bệnh hại gây hại nghiêm trọng nhƣ sâu ăn lá keo, mọt hại thân keo, bệnh chết héo cây, bệnh thối cổ rễ, ., vấn đề đặt ra là cần có những nghiên cứu có tính hệ thống và chuyên sâu để quản lý tốt các loài sâu bệnh hại tại đây. Để góp phần nhỏ bé của mình vào công tác quản lý bảo vệ rừng của địa phƣơng, nhằm ngăn chặn sự gây hại của các loài sâu bệnh hại tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trừ sâu bệnh hại trên cây Keo tai tượng, tại Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm giống cây nguyên liệu giấy huyện Hàm Yên” đƣợc thực hiện nhằm xác định nguyên nhân gây bệnh và loài sâu hại, đề xuất giải pháp quản lý sâu bệnh hại rừng trồng Keo tai tƣợng.
2 CHƢƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nghiên cứu về sâu hại keo Côn trùng học đã có một quá trình hình thành cách nay khá lâu. Ngay từ năm 300 trƣớc công nguyên, các sách cổ Syrie đã có dẫn chứng về các cuộc bay khổng lồ và sự phá hoại ghê gớm của châu chấu sa mạc (Schistocera gregaria).
Năm 1882 – 1883, Nhà côn trùng Nga Keppen đã xuất bản cuốn sách gồm 3 tập về côn trùng lâm nghiệp trong đó đề cập nhiều đấn côn trùng thuộc bộ cánh cứng. Trong tài liệu này đề cập đến các loài côn trùng thuộc bộ cánh cứng nhƣ: mọt, xén tóc và các côn trùng cánh cứng ăn hại lá khác.Ilisnki đã xuất bản cuốn “ Phân loại côn trùng bằng trứng, sâu non, nhộng, của các loài sâu hại rừng”. Nă 1950, Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô đã xuất bản tập “ Phân loại côn trùng ở các dải rừng phòng hộ”, của các tác giả L.Ap-non-di và G. Năm 1958, các nhà côn trùng Trung Quốc đã nghiên cứu về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của các loài sâu hại rừng.
Năm 1959, đã cho ra đời cuốn “Sâm lâm côn trùng học và biện pháp phòng trừ các loài sâu hại rừng”. Năm 1965, Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô đã cho ra đời cuốn “Phân loại côn trùng thuộc bộ cánh cứng phần Châu Âu thuộc Liên Xô”, trong đó có tập thứ 5 chuyên về phân loại Bộ cánh cứng (Coleoptera).N Boronxop đã viết giáo trình Côn trùng rừng trong các tác phẩm này đã đề cập đến nhiều loài côn trùng Bộ cánh cứng hại rừng nhƣ: mọt, xén tóc, sâu đinh và bọ lá. Năm 1966, Bey- Bienko đã phát hiện và mô tả đƣợc 300.000 loài côn trùng thuộc Bộ cánh cứng. Nghiên cứu về bệnh hại keo 1.
Các nghiên cứu về tình hình và nguyên nhân gây bệnh chết héo Các nghiên cứu về bệnh chết héo Bệnh chết héo đƣợc xác định do hai nguyên nhân chính bao gồm: (1) chết héo do nấm Phytophthora sp. gây hại, (2) chết héo do nấm Ceratocystis sp. Trong đó: bệnh chết héo do nấm Phytophthora sp. có triệu chứng điển hình là hệ rễ cám bị thối (Kile, 1993).
Trong khi đó bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây hại có điển hình là thân hoặc cành bị nứt, xì nhựa hoặc xì nƣớc, vỏ và gỗ ở quanh vết bị biến màu. Cây bị bệnh có vỏ cây ở phần gốc và rễ lớn bị thối, gỗ bị biến màu (Ake et al., 1992; Wingfile et al. Các nghiên cứu về bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp.
Các loài nấm Ceratocystis sp. thƣờng gây bệnh nguy hiểm trên nhiều cây chủ với một số bệnh điển hình nhƣ: bệnh thối rễ, thối gốc, loét thân cành và gây thối quả trên nhiều cây nhiệt đới (Kile, 1993). Loài Ceratocystis fimbriata gây chết héo hàng loạt rừng bạch dàn ở Cộng hòa Công gô (Roux et al., 2000); gây hại nghiêm trọng đối với cây cà phê ở Colimbia và Venezuela (Marin et al. fimbriata đƣợc xác định là tác nhân gây bệnh chết héo cây keo tại Nam Phi, loài nấm này cũng đồng thời là tác nhân gây bệnh nghiêm trọng trên nhiều loài cây khác trên thế giới (Ake et al., 1992; Wingfield et al.
Ngoài ra, nhiều triệu chứng bệnh khác nhau đƣợc ghi nhận trên Keo đen tại Nam Phi nhƣ bệnh bồ hóng, nứt vỏ, chết ngƣợc. Trong số các sinh vật gây bệnh đã phân lập đƣợc, hai loài nấm Phytophthora parasitica và Ceratocystis albofundus gây bệnh nghiêm trọng nhất (Jolanda và Wingfield, 1997). Bệnh chết héo do nấm C. acaciivora gây dịch hại rất nghiêm trọng tại Malaixia, đặc biệt là đối với rừng trồng Keo tai tƣợng.
Bệnh chết héo đã gây chết hàng nghìn ha Keo tai tƣợng tại phía Đông Sabah, Malaixia (Brawner et al. Tại Indonexia, nấm Ceratocystis spp. đƣợc ghi nhận đầu tiên thuộc loài C. Nấm Ceratocystis spp.
đƣợc xác định là tác nhân gây bệnh nghiêm trọng trên nhiều loài cây trồng tại Indonexia, trong đó có rừng trồng các loài keo (Tarigan et al., 2010; Tarigan et al. Những năm gần đây, rừng trồng keo tại Indonexia xuất hiện một số loại bệnh gây hại nghiêm trọng trên diện rộng, trong đó có bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp. gây ra (Hardiyanto, 2014; Yong et al., 2014) với hàng chục nghìn ha rừng bị chết trong những năm qua, gây tổn thất nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất lâm nghiệp của nƣớc này. fimbriata gây chết hàng loạt bạch đàn ở Brazil (Roux et al., 2000), nấm Ceratocystis sp.
đã gây nên dịch bệnh khô cành ngọn trên cây bạch đàn tại Brazil, sau đó quy mô và mức độ của dịch bệnh ngày càng nghiêm trọng. Đây cũng chính là nấm gây bệnh trên cây Xoài ở Brazil (Ploetz, 2003) và đã đƣợc xác định là nguyên nhân gây bệnh loét thân trên các loài sồi, các loài cây lá kim ở châu Âu (Ferreira et al. Bào tử nấm Ceratocystis sp. xâm nhiễm vào cây thông qua véc tơ truyền bệnh là các loài bọ cánh cứng, khi chúng gây hại cây trồng đã đồng thời đƣa nấm bệnh xâm nhập vào cây và gây bệnh.
Ngoài ra, các loài nấm gây bệnh này có thể xâm nhiễm trực tiếp từ các vết thƣơng hoặc vết tỉa cành (Harrington, 2009). manginecans đƣợc xác định là loài nấm gây bệnh chết héo nghiêm trọng trên Keo tai tƣợng ở Indonesia, đồng thời cũng gây bệnh chết héo Keo lá tràm, keo lai và Keo tai tƣợng tại một số tỉnh ở Việt Nam (Thu et al., 2014; Barnes và Wingfield, 2016; Fourie et al. Đặc điểm sinh học và sinh thái học của nấm Ceratocystis sp. Các nghiên cứu về đặc điểm hình thái của nấm Ceratocystis sp.
đƣợc nhiều tác giả thực hiện. Các loại bào tử của nấm Ceratocystis sp. đƣợc mô tả rõ ràng, cụ thể nhƣ sau: Nấm Ceratocystis sp. có nhiều thể hình cầu chứa bào tử mầu đen có sợi cổ nấm dài, phía trên đỉnh phun bào tử màu vàng bóng.
Bào tử hữu tính có hình mũ. Bào tử vô tính đƣợc sản sinh từ sợi sơ sinh có hình trụ, hình trống. Bào 5 tử áo có chiều dài từ 10,6 - 16,5µm, chiều rộng từ 8,2 - 12,5µm (Harrington và Wingfield, 1998; Barnes et al., 2005; Tarigan et al., 2010; Tarigan et al., 2011) Các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của nấm Ceratocystis sp. đã đƣợc thực hiện ở trong phòng thí nghiệm.
Từ đó đã đƣa ra các kết luận về môi trƣờng thích hợp với các loài nấm gây bệnh chết héo ở 25-30oC, độ ẩm 80- 90% (Harrington và Wingfield, 1998; Barnes et al., 2005; Tarigan et al. Biện pháp phòng trừ bệnh chết héo do nấm Ceratocystis sp.