CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích và ý nghĩa các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Trong hệ thống pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về các biện pháp ngăn chặn mà các biện pháp ngăn chặn mới chỉ được liệt kê, quy định tại Chương VI của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Mục I, Chương VII của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bao gồm các biện pháp ngăn chặn: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Bắt người phạm tội quả tang; Bắt người đang bị truy nã; tạm giữ, tạm giam; Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm.
Riêng theo quy định của BLTTHS năm 2015 có thêm biện pháp ngăn chặn mới là Tạm hoãn xuất cảnh. Trong những năm gần đây, thực tế cho thấy việc áp dụng các BPNC đã kịp thời chặn đứng được tội phạm, ngăn chặn việc cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, góp phần làm giảm tình hình tội phạm. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng đó vẫn xảy ra vi phạm pháp luật, như: lạm dụng bắt khẩn cấp, lạm dụng tạm giam, bức cung, nhục hình dẫn đến oan sai…. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ khái niệm BPNC và nội dung của nó có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao nhận thức của người tiến hành tố tụng, bảo đảm cho việc áp dụng các BPNC đạt hiệu quả cao hơn.
Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là cơ sở pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phòng ngừa, ngăn chặn, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm, xuất phát bản chất là những biện pháp hạn chế một số quyền cá nhân nên đây là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu khoa học luật TTHS cũng như 13 các nhà lập pháp quan tâm nghiên cứu. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau của các chuyên gia luật học về khái niệm của BPNC. Trước hết, khái niệm biện pháp ngăn chặn được nêu trong giáo trình tố tụng hình sự của Đại học Luật Hà Nội, được hiểu là “những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc bắt quả tang nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án [5. Ngoài ra, trong Từ điển Luật học có giải thích về biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong trường hợp phạm tội quả tang, hoặc trường hợp khẩn cấp để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn chặn tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật [70.
Cũng có quan điểm cho rằng: Biện pháp ngăn chặn là sự bắt buộc của Nhà nước thông qua cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng tạm thời tước bỏ hoặc hạn chế một phần quyền của bị can, bị cáo hoặc với người chưa bị khởi tố về hình sự nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn chặn tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật. Khái niệm này đã đúng khi xác định BPNC có tính bắt buộc, nếu hiểu "bắt buộc" đó là nghĩa vụ chấp hành từ phía đối tượng bị áp dụng và thừa nhận việc áp dụng các BPNC sẽ "hạn chế một phần quyền tự do thân thể của bị can bị cáo", nhưng không hợp lý cho rằng nó "tạm thời tước bỏ quyền tự do thân thể" của bị can, bị cáo. Theo một quan điểm khác lại cho rằng: Biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng chế cần thiết áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố khi có căn cứ do Bộ luật tố tụng hình sự quy định nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội, ngăn chặn tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật đồng thời bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. 14 Ngoài ra, còn có một số khái niệm khác nữa về BPNC của các nhà nghiên cứu luật, diễn giả luật học.
dựa trên cơ sở phân tích nội dung của các quy phạm pháp luật tại Điều 79 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 109 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cũng như thực tiễn áp dụng chúng trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Cho đến nay, trong BLTTHS năm 2015 là bộ luật tố tụng hiện hành đang được áp dụng thực tế vẫn chưa có quy định cụ thể, định nghĩa chính xác về biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự; từ đó dẫn đến có nhiều ý kiến khác nhau về định nghĩa, khái niệm đặc điểm, bản chất của biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự. Nhìn chung, tổng hợp phân tích từ các quan điểm này, có thể rút ra khái niệm đầy đủ, bao quát về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự như sau: “Các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là biện pháp cưỡng chế do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân trong phạm vi thẩm quyền tố tụng hoặc người có thẩm quyền theo quy định BLTTHS có thể áp dụng với người bị tình nghi phạm tội chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo, người bị kết án khi kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc có căn cứ xác định họ sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án. Đặc điểm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.
Dựa trên khái niệm trên về các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, có thể đưa ra những đặc điểm đặc trung của biện pháp ngăn chặn, bao gồm: - Bản chất pháp lý của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự: Theo Đại từ điển Tiếng Việt do GS, TS Nguyễn Như Ý làm chủ biên giải thích nghĩa của động từ "ngăn chặn" là: "Chặn lại, làm hạn chế khả năng gây tác hại", nghĩa của danh từ "biện pháp" là: "cách làm, cách thức tiến hành, giải quyết một vấn đề cụ thể". Từ các nội dung này, ta có BPNC trong luật TTHS là cách thức chặn lại, làm hạn chế khả năng gây tác hại của tội phạm. 15 Bản chất pháp lý của các BPNC được xác định bởi tính chất và nội dung của sự cưỡng chế thể hiện trong trong khi áp dụng chúng. Xét về tính chất của sự cưỡng chế, các BPNC là sự tác động trực tiếp của Nhà nước và xã hội lên đối tượng bị áp dụng.
Xét về nội dung cưỡng chế, các BPNC tác động đến thể chất và tâm lý của chính đối tượng bị áp dụng bằng sự cấm đoán một số hành vi nhất định, như: tiếp tục phạm tội, bỏ trốn, rời khỏi nơi cư trú mà không được phép của cơ quan có thẩm quyền, cản trở điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, phạm tội mới; và còn tác động tâm lý lên cả đối tượng nhận bảo lĩnh về trách nhiệm của mình khi để cho bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan. Như vậy, các BPNC còn mang tính phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng. Mức độ hạn chế tự do cá nhân cũng khác nhau trong việc áp dụng từng BPNC mà không thể áp dụng đồng thời, nhiều BPNC cùng một lúc trong một thời điểm để gia tăng cao hơn mức độ hạn chế đó. Các biện pháp tạm giữ, tạm giam có mức độ hạn chế tự do nhiều hơn so với các BPNC khác, bởi sự cách ly đối tượng ra khỏi cộng đồng và biện pháp tạm giam lại có mức độ hạn chế tự do nhiều hơn so với biện pháp tạm giữ do đối tượng bị cách ly khỏi cộng đồng trong một khoảng thời gian vài tháng, có thể tới vài năm, trong khi đó biện pháp tạm giữ chỉ cách ly đối tượng không quá 9 ngày đêm.
Tóm lại, về bản chất pháp lý, ngoài tính cưỡng chế, các BPNC còn mang tính phòng ngừa. - Chủ thể có quyền tham gia vào việc quyết định và thực hiện áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự gồm: Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng; Cơ quan và người được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Bên cạnh đó, có sự tham gia của chính quyền địa phương, tổ chức và công dân, như: việc theo dõi, giám sát của chính quyền địa phương đối với việc thực hiện biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, bị cáo; việc bảo lĩnh của tổ chức và công dân; việc công dân tham gia vào các hoạt động bắt người với tư cách là người chứng kiến hoặc trực tiếp bắt quả tang. 16 - Đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự: khái niệm trên đều đề cập đến ba đối tượng bị áp dụng các BPNC là: bị can, bị cáo hoặc người bị tình nghi phạm tội chưa bị khởi tố.
Đối tượng bị áp dụng BPNC là bị can, bị cáo, thì đã rõ, bởi vì, định nghĩa pháp lý về chúng đã được đề cập tại các điều 49 và 50 BLTTHS. Riêng về người chưa bị khởi tố, thì vẫn chưa có định nghĩa pháp lý nên cần được làm rõ. Đối tượng người chưa bị khởi tố có thể là người có hành vi vi phạm hình sự hoặc vi phạm pháp luật khác. Từ đó, cho thấy đối tượng người chưa bị khởi tố là quá rộng và chưa chuẩn xác.
Đối tượng chưa bị khởi tố mà bị áp dụng các BPNC chỉ có thể là những người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm nên có thể xác định phạm vi này để thay vào đó là "người có liên quan đến việc thực hiện tội phạm chưa bị khởi tố". Ngoài ra, đối tượng bị áp dụng biện pháp bắt theo lệnh truy nã có thể là bị can, bị cáo, người đang thi hành án. - Phạm vi áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự: Tất cả các BPNC được áp dụng trong mọi giai đoạn tố tụngtương ứng từ điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử. Khi đình chỉ hoặc việc áp dụng không còn cần thiết, thì cơ quan THTT phải hủy bỏ hoặc thay thế chúng.