Chương 1 - Điều tra và thẩm vấn, quyển II - Sơ thẩm [43]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bộ luật TTHS Cộng hòa Liên bang Đức có sử dụng cụm từ BPNC tại Mục 7 - Giám sát tư pháp và BPNC là giám sát tư pháp và tạm giam, nhưng cũng không đưa ra khái niệm BPNC [46]. Các chuyên gia luật học của nước ngoài đã nêu ra những khái niệm khác nhau về BPNC, phản ánh được khái quát những đối tượng nghiên cứu mà chúng ta cần tham khảo, tiếp thu, như: quan niệm về bản chất pháp lý của BPNC, sự cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa, quyền lựa chọn BPNC trong TTHS. Trong khoa học luật TTHS Việt Nam cũng có nhiều khái niệm khác nhau về BPNC, như: - Từ điển Luật học giải thích BPNC là biện pháp cưỡng chế về mặt tố tụng hình sự áp dụng khi có đủ căn cứ đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang để ngăn chặn hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành động gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án [27, tr.
Từ điển đã xác định đúng đối tượng và mục đích áp dụng các BPNC, nhưng không chỉ ra chủ thể có quyền áp dụng chúng. - Một số khái niệm khác về BPNC của các nhà khoa học nghiên cứu pháp luật, cán bộ làm công tác thực tiễn phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm được công bố trong các giáo trình Luật TTHS Việt Nam, sách chuyên khảo, tạp chí chuyên ngành luật học. Các khái niệm đó đều dựa trên cơ sở phân tích nội dung của các quy phạm pháp luật tại Điều 61 BLTTHS năm 1988 và Điều 79 BLTTHS năm 2003, cũng như thực tiễn áp dụng chúng trong công tác phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. - Điều 79 BLTTHS quy định những biện pháp ngăn chặn bao gồm: bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo.
Đây là những biện pháp cưỡng chế cần thiết của TTHS nhằm tước bỏ hoặc hạn chế một phần các quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận [31]. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Bởi vậy, biện pháp ngăn chặn chỉ được áp dụng đối với đối tượng là bị can, bị cáo hoặc những người chưa bị khởi tố trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang do Bộ luật TTHS quy định. Mục đích của việc áp dụng BPNC là để cho người phạm tội không có điều kiện tiếp tục thực hiện tội phạm; chặn đứng hành động chống đối; không để cho người phạm tội trốn tránh pháp luật, đảm bảo cho mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và chấp hành án hình sự được đúng đắn, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, củng cố và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Những biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc đối với những người chưa bị khởi tố (trong trường hợp khẩn cấp hoặc phạm tội quả tang), nhằm ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Từ các nội dung trên có thể rút ra một số đặc điểm sau của các BPNC: - Bản chất pháp lý: biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa. - Căn cứ cụ thể áp dụng: những tài liệu nói lên khả năng cản trở việc xác định sự thật của vụ án, khả năng trốn tránh việc điều tra, truy tố, xét xử từ phía bị can, bị cáo hoặc khả năng tiếp tục thực hiện tội phạm của họ và chứng cứ khẳng định một người đã thực hiện tội phạm, cũng như các điều kiện áp dụng đã được luật hóa. Những tài liệu đó phải thể hiện trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ ra quyết định áp dụng, thay thế, hủy bỏ các BPNC. - Chủ thể có quyền áp dụng BPNC: người có quyền hạn được quy định tại BLTTHS.
- Đối tượng bị áp dụng: người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo. - Mục đích áp dụng: ngăn chặn đối tượng nói trên phạm tội và bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ sự phân tích ở trên, ta có thể đưa ra khái niệm BPNC như sau: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính phòng ngừa do người có quyền hạn được quy định trong Bộ luật TTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo, người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, khi có căn cứ áp dụng nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Các BPNC trong Bộ luật TTHS được sử dụng hầu như đối với mọi vụ án hình sự.
Chúng có tác dụng ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn việc cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, bảo đảm cho quá trình giải quyết vụ án theo thời hạn đã quy định, nên có ý nghĩa rất to lớn trong công cuộc phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm thông qua các khía cạnh, như: Thứ nhất, những quy phạm pháp luật về các biện pháp ngăn chặn thể hiện sự chuyên chính của Nhà nước trong đấu tranh chống tội phạm bằng sức mạnh cưỡng chế. Thứ hai, những quy phạm pháp luật về các biện pháp ngăn chặn có ý nghĩa tạo điều kiện thuận lợi cho cả quá trình xử lý vụ án. Thứ ba, những quy phạm pháp luật về các biện pháp ngăn chặn thể hiện tính ưu việt của Nhà nước XHCN. Thứ tư, những quy phạm pháp luật về các biện pháp ngăn chặn có ý nghĩa to lớn trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền tự do cá nhân được Hiến pháp, pháp luật ghi nhận.
Khái niệm giai đoạn điều tra vụ án hình sự Điều tra là hoạt động có mục đích khám phá sự thật khách quan phục vụ nhu cầu của con người. Trong lĩnh vực phòng, chống tội phạm, điều tra là hoạt động khám phá, phát hiện tội phạm. Hoạt động điều tra được nhìn nhận và quy định khác nhau ở các quốc gia phụ thuộc vào quan điểm chính trị, chính sách hình sự, trình độ và cách thức tổ chức bộ máy phòng, chống tội phạm ở từng nước. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khoa học pháp lý của Liên Xô trước đây và của Nga hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về hoạt động điều tra.
Đặc điểm chung của các quan điểm đó đã nêu bật được nội dung bản chất của hoạt động điều tra là hoạt động phát hiện, thu thập, củng cố, ghi nhận, thu giữ những thông tin của vụ án. Điểm khác nhau là quan niệm về đối tượng mà hoạt động điều tra tác động tới, thừa nhận điều tra viên là chủ thể của hoạt động điều tra [45]. Trong khoa học pháp lý Việt Nam cũng tồn tại các quan điểm khác nhau về hoạt động điều tra. Cách hiểu phổ biến ở Việt Nam hiện nay cho rằng điều tra là hoạt động của cơ quan điều tra trong điều tra vụ án hình sự.
Quan điểm này cho rằng điều tra là tổng hợp tất cả các hành vi thực hiện trong giai đoạn điều tra và do một cơ quan điều tra thực hiện. Ví dụ: Trong cuốn Tìm hiểu Luật Tố tụng hình sự, một nhóm tác giả cùng thống nhất giải thích rằng, "Điều tra là một giai đoạn của quá trình tố tụng hình sự, trong đó cơ quan điều tra áp dụng các biện pháp do Luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, Viện kiểm sát kiểm sát hoạt động điều tra, quyết định truy tố bị can làm cơ sở cho việc xét xử của Tòa án"; hoặc, "Điều tra vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự, trong giai đoạn này cơ quan điều tra áp dụng mọi biện pháp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định để xác định tội phạm và người phạm tội". Từ điển Luật học giải thích "điều tra là công tác trong tố tụng hình sự được tiến hành nhằm xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ" [27]. Cách hiểu này thể hiện ranh giới không rõ ràng giữa chức năng của cơ quan điều tra với hoạt động điều tra, đồng nhất giai đoạn điều tra với hoạt động điều tra, coi hoạt động điều tra gồm mọi hoạt động tố tụng trong giai đoạn điều tra; nhìn nhận về hoạt động điều tra mang tính cục bộ, phiến diện, bó hẹp phạm vi hoạt động điều tra chỉ được tiến hành trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Trên thực tế hoạt động điều tra được tiến hành trong tất cả các giai đoạn tố tụng hình sự, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự với những mục đích khác nhau để xác định sự thật khách quan của vụ án. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cách hiểu thứ hai coi hoạt động điều tra là hoạt động của cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án nhằm xác định sự thật khách quan của vụ án. Điểm khác biệt lớn nhất của quan điểm này so với quan điểm thứ nhất là đã nhìn nhận chủ thể của hoạt động điều tra rộng hơn. Tuy nhiên, cách hiểu thứ hai lại nhầm lẫn giữa các hoạt động của cơ quan điều tra với hoạt động điều tra; giữa chức năng của từng hoạt động điều tra với chức năng của các cơ quan điều tra và viện kiểm sát.
Về mặt luật thực định, ở Việt Nam hiện nay chưa có một khái niệm pháp lý về "hoạt động điều tra" và cũng chưa được giải thích chính thức bởi các cơ quan có thẩm quyền. Trong tất cả các Bộ luật Tố tụng hình sự, chưa có điều luật nào giải thích hoặc định nghĩa về hoạt động điều tra.